Chào đồng hương, răng O/Chú nỏ đăng ký luôn đi, miễn phí mà. Bài hát Xứ Nghệ | Tìm kiếm | Bài mới | Đăng nhập | Đăng Ký

2 Trang 12>
NHỮNG NGƯỜI CON XỨ NGHỆ THÀNH DANH Chủ đề trước · Chủ đề kế tiếp · Tùy chọn · Coi
quanvoliet
#1 Đã Gửi : 06/04/2007 lúc 21:01:03

Tâm huyết

Nhóm: Quản trị

Gia nhập: 27-01-2007
Bài viết: 2.422
Điểm: 4.332
Đến từ: Nhút Thanh chương
Yêu thích: 473
Được cảm ơn 950 lần trong 473 bài.
Xin giới thiệu " những người con xứ nghệ thành danh" trên mọi lĩnh vực, đó là niềm tự hào và lhá»những tấm gương sáng để cho tất cả chúng ta phấn đấu vươn lên trong mọi hoàn cảnh.
 
- Hồ Đức Việt: Tiến sĩ toán lý, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức trung ương, chủ nhiệm ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trưởng của Quốc hội : ông này nắm nhân sự cấp trung ương.
- Lê Doãn Hợp: Tiến sĩ, Bộ trưởng Bộ văn hóa- thông tin.
- Uông Chu Lưu: Bộ trưởng Bộ Tư pháp
- Đặng Quang Phương: Tiến sĩ luật, Phó Chánh án thường trực Tòa án nhân dân tối cao.
- Trần Ngọc Chính: Kiến trúc sư, thứ trưởng Bộ xây dựng.
- Trần Xuân Hà: Tiến sĩ, thứ trưởng Bộ Tài chính.
- Bành Tiến Long: Giáo sư, TSKH Chế tạo máy,Thứ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo
- Hoàng Ngọc Hà: Giáo sư, TSKH Trắc địa và xử lý ảnh, Vụ trưởng Vụ khoa học và công nghệ, Bộ giáo dục và đào tạo:
- Trần Thị Hà: phó giáo sư, tiến sĩ , Vụ trưởng Vụ Đại học và Sau đại học, Bộ giáo dục và đào tạo:
- Phạm Hùng- Tổng giám đốc Tập đoàn Lắp máy Việt nam Lilama.

Các giáo sư đầu ngành:
- Hà Huy Khoái: Giáo sư, TSKH toán học, Viện sĩ Viện hàm lâm khoa học các nước thế giới thứ 3, Viện trưởng Viện Toán học Việt nam.
- Bạch Hưng Khang: Giáo sư, TSKH nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ thông tin Việt nam.
- Nguyễn Thúc Hải: Giáo sư, tiến sĩ, nguyên chủ nhiệm Khoa Công nghệ thông tin- Đại học Bách khoa Hà nội
- Trần Xuân Hoài: Giáo sư, TSKH, Viện trưởng Viện Vật lý ứng dụng- Viện Khoa học Việt nam:
- Giáo sư, TSKH Đinh Dũng, Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin,- Đại học Quốc gia Hà nội:
- Nguyễn Đình Hương; Giáo sư, TSKH, nguyên hiệu trưởng trường Đại học kinh tế quốc dân, chủ tịch Hội khoa học kinh tể Việt nam.
- Hoàng Xuân Sính: Giáo sư, TSKH toán học, chủ tịch hội đồng quản trị trường Đại học Thăng Long
- Nguyễn Văn Trương: Giáo sư , TSKH, Viện trưởng Viện Kinh tế sinh thái,anh hùng lao động:
- Cao Tiến Hùynh: Giáo sư, TSKH, Viện trưởng Viện tự động hóa kỹ thuật quân sự, phó chủ tịch Hội tự động hóa Việt nam:
- Nguyễn Đức Cương: Giáo sư, TSKH, Viện phó Viện Tên lửa- Bộ Quốc phòng.
- Lê Mỹ Tú: Giáo sư, TSKH, Giám đốc Học viện Kỹ thuật mật mã
- Đinh Quang Báo: Giáo sư, TS sinh học, nguyên Hiệu trưởng trưởng Đại học sư phạm 1:
- Võ Quý: Giáo sư sinh học, Đại học Quốc gia Hà nội, giải thưởng Hành tinh xanh:
- Phạm Đức Dương: Giáo sư, TSKH, Viện trưởng Viện Đông nam á,
- Hà Văn Tấn: Giáo sư, Viện trưởng Viện Khảo cổ học, giải thưởng Hồ Chí Minh.
- Đặng Quốc Phú: Giáo sư, TSKH, Viện trưởng Viện kỹ thuật nhiệt lạnh, ĐH BK Hà nội:
- Hà Huy Khôi: Giáo sư, TSKH, Viện trưởng Viện Dinh Dưởng, Bộ y tế, giải thưởng nhà nước năm 2005:
- Hà Học Trạc: Giáo sư, tiến sĩ, nguyên Chủ tịch Hội liên hiệp KH và KT Việt nam, tổng biên tập Từ điển Bách khoa Việt nam:
- Đinh Xuân Lâm: Giáo sư sử học, Nhà giáo nhân dân, Đại học Quốc gia Hà nội:
- Trần Vĩnh Diệu: Giáo sư, TSKH, giám đốc TT vật liệu Polyme- Đại học Bách khoa, anh hùng lao động:
- Giáo sư Nguyễn Đức Bình: nguyên ủy viên Bộ chính trị, giám đốc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh:
- Nguyễn Huệ Chi: Giáo sư văn học,
- Phong Lê: Giáo sưu văn học , nguyên Viện trưởng Viện Văn học, giải thưởng nhà nước năm 2005
- Nguyễn Khắc Phi: Giáo sư văn học:
- Phan Đình Diệu : Giáo sư, TSKH, nguyên Viện trưởng Vỉện CNTT, ủy viên Đoàn chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt nam:
- Lê Tuấn Hoa: Giáo sư, TSKH, phó Viện trưởng Viện toán học Việt nam, phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký hội Toán học Việt nam.
- Nguyễn Hữu Công: Giáo sư, TSKH, chủ nhiệm khoa sau đại học - Đại học Quốc gia Hà nội:
- Giáo sư, Viện sĩ Vật lý Đào Vọng Đức.
- Giáo sư TSKH Cầu đường Hà Huy Cương, Học viện Kỹ thuật quân sự:
- Giáo sư, TSKH Phan Trường Phiệt: Đại học thủy lợi
- Giáo sư, Lê Xuân Tùng, nguyên Bí thư thành ủy Hà nội
- Giáo sư TSKH Nguyễn Văn Hợi, giám đốc TT kỹ thuật các công trình đặc biệt- Học viện Kỹ thuật quân sự:
- Giáo sư, nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến:
- Giáo sư sử học Chương Thâu
- Giáo sư Phan Hữu Dật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Giáo sư Phan Cự Đệ, Đại học Quốc gia Hà nội
- Giáo sư, Tiến sĩ cơ học Phan Nguyên Di: Học viện Kỹ thuật Quân sự
- Giáo sư, Tiến sĩ cơ học Hoàng Xuân Lượng: Học viện Kỹ thuật Quân sự

Ngoài ra còn có:
- Trần Bạch Thu Hà; Phó giáo sư, Tiến sĩ, Giám đốc Nhạc viện Hà Nội
- Nguyễn Cảnh Lương: Phó giáo sư, Tiến sĩ, phó hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà nội
- Nguyễn Thị Hòe: Phó giáo sư, Tiến , sĩ, chủ hãng sơn Kova:
- Phạm Thị Thành: Nghệ sĩ nhân dân, đạo diễn:
- An Thuyên: nhạc sĩ: hiệu trưởng trường đại học văn hóa- nghệ thuật quân đội,
- Nguyễn Trưởng Cửu: Phó giáo sư, Viện sĩ, phó Tổng giám đốc trung tâm nhiệt đới Việt Nga- Bộ Quốc phòng
- Dương Kỳ Anh: Nhà thơ, Tổng biên tập báo Tiền phong.
- Đinh Văn Nhã: Phó giáo sư, tiến sĩ, giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005
- Lê Hải Khôi: Phó Giáo sư, tiến sĩ, Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin Việt nam
                                           
    Sưu tầm/4/07 ( danh sách này tiếp tục được sưu tầm và cập nhật)

 
quanvoliet39181.4986458333
..." Dẫu ngày xưa có thể khác bây giờ
Nhưng Chất Nghệ anh tin là vẫn chảy
Trong huyết quản mỗi người quê anh đấy
Sống nơi nào cũng muối mặn gừng cay"...
Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn "Kết Nối Ân Tình Xứ Nghệ". Với mục tiêu xây dựng một sân chơi bổ ích, giao lưu kết nối cộng đồng mạng phát triển, vững mạnh - chúng tôi luôn trân trọng mọi đóng góp, bài viết của tất cả các thành viên. Chúc bạn có những thông tin bổ ích, giây phút thoải mái với diễn đàn.

quanvoliet
#2 Đã Gửi : 10/04/2007 lúc 14:44:18

Tâm huyết

Nhóm: Quản trị

Gia nhập: 27-01-2007
Bài viết: 2.422
Điểm: 4.332
Đến từ: Nhút Thanh chương
Yêu thích: 473
Được cảm ơn 950 lần trong 473 bài.
TÔN QUANG PHIỆT:

(1900 - 73), nhà hoạt động chính trị, nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Quê: Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Học Cao đẳng Sư phạm Hà Nội; cùng Đặng Thai Mai, Phạm Thiều... lập ra Việt Nam Nghĩa hoà Đoàn, tham gia đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu (giữa 1925). Hội trưởng Hội Phục Việt. Tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Bị thực dân Pháp bắt, giam ở nhà tù Buôn Ma Thuột. Năm 1934, ra tù và bị quản thúc, rồi dạy học ở Vinh và Huế. Tham gia phong trào cách mạng những năm 1936 - 45 và khởi nghĩa ở Huế (1945), giữ chức chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Lâm thời thành phố Huế. Đại biểu Quốc hội các khoá I - IV, phó trưởng ban Thường vụ Quốc hội khoá I, tổng thư kí khoá III, IV. Ông cũng đã nghiên cứu sử học và văn học. Tác phẩm chính: "Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh", "Phan Bội Châu và một giai đoạn trong lịch sử chống Pháp", "Thơ văn chữ Hán của Phan Bội Châu". Truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.


..." Dẫu ngày xưa có thể khác bây giờ
Nhưng Chất Nghệ anh tin là vẫn chảy
Trong huyết quản mỗi người quê anh đấy
Sống nơi nào cũng muối mặn gừng cay"...
quanvoliet
#3 Đã Gửi : 10/04/2007 lúc 14:45:55

Tâm huyết

Nhóm: Quản trị

Gia nhập: 27-01-2007
Bài viết: 2.422
Điểm: 4.332
Đến từ: Nhút Thanh chương
Yêu thích: 473
Được cảm ơn 950 lần trong 473 bài.

Đặng Thúc Hứa (1870 - 1931),

Chí sỹ thời cận đại
Quê: xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
Ông tham gia phong trào Duy Tân do cụ Phan Bội Châu khởi xướng. Năm 1910, ông sang Xiêm xây dựng cơ sở lâu dài cho cách mạng, xây dựng trại Cày ở Bản Thầm, Bắc Nậm Phô, Phì Chịt, Lâm Băng. Ông tích cực tuyên truyền tư tưởng yêu nước trong kiều bào ở Thái Lan, tham gia thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và chi bộ Cộng sản ở Xiêm.

..." Dẫu ngày xưa có thể khác bây giờ
Nhưng Chất Nghệ anh tin là vẫn chảy
Trong huyết quản mỗi người quê anh đấy
Sống nơi nào cũng muối mặn gừng cay"...
quanvoliet
#4 Đã Gửi : 10/04/2007 lúc 14:57:34

Tâm huyết

Nhóm: Quản trị

Gia nhập: 27-01-2007
Bài viết: 2.422
Điểm: 4.332
Đến từ: Nhút Thanh chương
Yêu thích: 473
Được cảm ơn 950 lần trong 473 bài.

Đặng Thai Mai

 

 
Đặng Thai Mai 1902-1984
Đặng Thai Mai (1902-1984)

Đặng Thai Mai (25 tháng 12, 1902 – 1984) (còn được biết đến dưới tên gọi Đặng Thái Mai và những bút danh Thanh Tuyền, Thanh Bình) là một giáo sư, nhà giáo, nhà văn, nhà phê bình văn học Việt Nam. Nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Viện trưởng Viện Văn học những ngày đầu tiên Viện mới được thành lập.

 Tiểu sử

Ông sinh năm 1902 tại làng Lương Điền (nay là Thanh Xuân), huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nho học. Thân phụ ông là Đặng Nguyên Cẩn, đỗ phó bảng, tham gia phong trào Duy Tân cùng với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, bị thực dân Pháp bắt, đày đi Côn Đảo.

Sau khi thân phụ bị bắt, ông về sống tại quê nội từ năm 6 tuổi, và được bà nội nuôi dưỡng, giáo dục lòng yêu nước, học chữ Hánchữ Quốc ngữ theo chương trình Đông kinh nghĩa thục.

Năm 1925, khi đang theo học tại Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương - Hà Nội, ông tham gia phong trào đòi "ân xá" Phan Bội Châu, truy điệu Phan Chu Trinh, đồng thời gia nhập đảng Tân Việt.

Năm 1928, ông trở thành giáo sư Trường Quốc học Huế. Năm 1929, khi đảng Tân Việt tan vỡ, ông bị xử một năm tù treo, sau đó lại trở về dạy học ở Huế. Ông lại bị bắt năm 1930 và bị xử 3 năm vì tham gia phong trào Cứu tế đỏ. Sau khi ra tù, Đặng Thai Mai ra Hà Nội sống và dạy học tại trường tư Gia Long (1932).

Đến năm 1935, Đặng Thai Mai cùng với các bạn là Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Võ Nguyên Giáp... lập ra Trường tư thục Thăng Long. Năm 1936, ông cùng Nguyễn Văn Tố, Vương Kiêm Toàn, Phan Thanh, Võ Nguyên Giáp... thành lập ra Hội truyền bá chữ Quốc ngữ.

Ông bắt đầu hoạt động văn hóa thời kì Mặt trận Dân chủ (1936-1939), viết báo và sáng tác một số truyện ngắn bằng tiếng Pháp nêu gương các chiến sĩ cách mạng buổi đầu (Cô câm đã lên tiếng, Người đàn bà điên, Chú bé...).

Năm 1939, ông ứng cử Viện dân biểu Trung Kỳ. Năm 1944, ông cho ra đời tác phẩm Văn học khái luận - cuốn sách đầu tiên trình bày có hệ thống nhiều vấn đề lí luận văn học theo quan điểm tiến bộ, như điển hìnhcá tính, nội dunghình thức, truyền thốnghiện đại. Đặng Thai Mai cũng là người có công giới thiệu văn học hiện đại Trung Quốc qua các công trình Lỗ Tấn (1944), Tạp văn Trung Quốc (1944), các bản dịch kịch Lôi Vũ, Nhật xuất của Tào Ngu, Lịch sử văn học Trung Quốc hiện đại, tập 1 (viết năm 1958).

Sau Cách mạng tháng Tám, ông giảng dạy ở bậc đại học và nghiên cứu phê bình văn học. Năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá I, Ủy viên Ban dự thảo Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời là Bộ trưởng Bộ giáo dục trong Chính phủ liên hiệp. Cũng trong năm này, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.

Trong các giai đoạn về sau, ông lần lượt giữ các chức vụ về văn hoá và giáo dục như Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thanh Hóa, Hội trưởng Hội văn hóa Việt Nam, Giám đốc Trường dự bị đại học và Sư phạm cao cấp Liên khu IV, Giám đốc trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện trưởng Viện văn học, Chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông cũng cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị như Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ 20 (1960), Trên đường học tập và nghiên cứu (tập 1, 1959, tập 2, 1965 và tập 3, 1973).

Đặng Thai Mai có vốn nho học uyên thâm và am hiểu văn học cổ điển Pháp, văn học hiện đại Trung Quốc, văn học cận đại Việt Nam. Đặng Thai Mai là nhà lí luận phê bình sắc sảo. Năm 1982, ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. Năm 1996, ông lại được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I) về các công trình nghiên cứu văn học Việt Namvăn học thế giới.

Ông lập gia đình với bà Hồ Thị Toan, người con gái đầu là Đặng Bích Hà (phó giáo sư) sau gả cho bạn ông là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông còn có một người con trai và bốn người con gái khác, trong đó hai người cũng là vợ của các tướng lĩnh trong Quân đội là bà Đặng Thị Hạnh (phó giáo sư) - vợ của Trung tướng Phạm Hồng Cư (tên thật là Lê Đỗ Nguyên) và bà Đặng Anh Đào (phó giáo sư tiến sĩ) - vợ của Trung tướng Phạm Hồng Sơn. Một người con gái nữa là Đặng Thanh Lê (giáo sư), giảng dạy tại khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội. Con trai ông là Đặng Thái Hoàng, một kiến trúc sư. Con gái út của ông là Đặng Xuyến Như (phó giáo sư tiến sỹ ) thuộc Viện ứng dụng công nghệ. Đặng Thai Mai mất năm 1984.

..." Dẫu ngày xưa có thể khác bây giờ
Nhưng Chất Nghệ anh tin là vẫn chảy
Trong huyết quản mỗi người quê anh đấy
Sống nơi nào cũng muối mặn gừng cay"...
quanvoliet
#5 Đã Gửi : 16/04/2007 lúc 13:41:32

Tâm huyết

Nhóm: Quản trị

Gia nhập: 27-01-2007
Bài viết: 2.422
Điểm: 4.332
Đến từ: Nhút Thanh chương
Yêu thích: 473
Được cảm ơn 950 lần trong 473 bài.

Nguyễn Du


Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu (ngày 3 tháng 1 năm 1766). Quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng ông ra đời ở Thăng Long, trong một gia đình đại qúy tộc, nhiều đời làm quan và có nhiều người sáng tác văn học.

Cha ông là Nguyễn Nghiễm, từng giữ chức Tể tướng triều Lệ Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm. Bà xuất thân trong một gia đình bình thường, giỏi việc hát xướng và trẻ hơn chồng 32 tuổị

Từ lúc ra đời cho đến năm 10 tuổi, Nguyễn Du sống hết sức sung túc. Đến năm 10 tuổi, cha mất; hai năm sau mẹ mất. Bốn anh em cùng mẹ với Nguyễn Du chưa ai đến tuổi trưởng thành, phải đến sống nhờ ở nhà người anh cả cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản, lớn hơn Nguyễn Du 32 tuổi, bấy giờ đang làm quan to trong triềụ Nhưng nhà Nguyễn Khản cũng không yên, Nguyễn Khãn bị kiêu binh, ghét nên khi ông được chúa Trịnh cử làm Tham tụng thì họ kéo đến phá tan nhà của ông và toan giết chết ông. Nguyễn Khãn bỏ chạy lên Sơn Tây rồi chạy về Hà Tĩnh. Thời gian này Nguyễn Du còn nhỏ tuổi vẫn tiếp tục đi học. Năm 1783, 18 tuổi Nguyễn Du đi thi hương đậu tam trườ`ng, sau đó không rõ vì lẽ gì không thấy ông học lên nữa, mà đi nhận một chức quan võ ở Thái Nguyễn, kế chân người cha nuôi của ông vừa mới từ trần.

Khoảng 30 năm cuối thế kỷ XVIII đất nước ta hết sức rối ren, triều đình Lê - Trịnh có nguy cơ sụp đổ, nên Lê Chiêu Thống cử người sang cầu cứu nhà Thanh. Nhà Thanh nhân cơ hội ấy đem quân sang xâm chiếm nước tạ Năm 1789, Nguyễn Huệ trong Nam kéo quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh. Lê Chiêu Thống cùng một số quan lại triều đình bỏ nước chạy theo quân xâm lược sang Trung Quốc. Ba anh em cùng mẹ với Nguyễn Du chạy theo Lê Chiêu Thống không kịp. Nguyễn Du bỏ về quê vợ ở Thái Bình, ông vẫn nơm nớp lo sợ bị nhà Tây Sơn trả thù, nên sống trốn tránh. Sau đó ông bỏ về Tiên Điền sống một thời gian dài cho đến năm 1802, Gia Long lật đổ nhà Tây Sơn. Suốt thời gian ở Thái Bình cũng như khi về Hà Tĩnh, Nguyễn Du sống long đong, vất vả. Nhiều lần ông phải ăn ở nhờ nhà người khác, có lúc ốm không có thuốc uống. Tập thơ chữ Hán Thanh Hiên thi tập (Thanh Hiên là hiệu của Nguyễn Du) được Nguyễn Du viết chủ yếu trong những năm tháng nàỵ

Tháng 8 năm 1802, Gia Long có chiếu bổ nhiệm Nguyễn Du làm Tri huyện Phù Dung rồi thăng Tri phủ Thường Tín. Nguyễn Du không muốn ra làm quan, nhưng nhiều lần triều đình mời gọi, bất đắc dĩ phải rạ Sau khi làm Tri phủ Thường Tín, ông được cử lên cửa Nam Quan tiếp sứ thần Trung Quốc, lúc về được điều vào Phú Xuân, sau đó được cử làm Cai bạ tỉnh Quảng Bình. Đây là giai đoạn ông viết tập thơ Nam trung tạp ngâm (Nam trung là chỉ miền Nam). Truyện Kiều của ông cũng có thể được viết trong thời gian nàỵ

Năm 1813, Nguyễn Du được thăng chức Học sĩ điện Cần chánh và được cử làm Chánh sứ, cầm đầu một phái đoàn của ta đi Trung Quốc. Trong thời gian đi sứ, Nguyễn Du đã viết tập Bắc hành tạp lục (bác hành là đi lên phía bắc, nói chuyện đi sứ Trung Quốc). Đây là tập thơ chữ Hán xuất sắc nhất của ông. Sau khi về nước, Nguyễn Du được thăng làm Tham tri bộ Lễ. Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, định cử Nguyễn Du làm Chánh sứ đi Trung Quốc lần nữa, nhưng chưa kịp đi thì ông mất đột ngột ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (18/9/1820) trong một trận dịch rất lớn. Những năm làm quan cho triều Nguyễn, Nguyễn Du thường ốm đau, bệnh tật; cuộc sống có nhiều khó khăn. Giai đoạn cuối đời hình như ông ít sáng tác. Ngoài bài Văn chiêu hồn (còn có tên Văn tế thập loại chúng sinh) là một bài thơ dài chữ Nôm viết bằng thể song thất lục bát, không thấy ông có tác phẩm nào để lạị

Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc. Có thể nói toàn bộ tác phẩm của ông, chữ Hán cũng như chữ Nôm, chan chứa một tình yêu thương bao la đối với con người, đặc biệt là người phụ nữ. Không phải chỉ trong Truyện Kiều, mà trong Thơ chữ Hán và trong Văn chiêu hồn của ông, tình thương ấy cũng tràn ngập. Trong thơ chữ Hán của ông, những bài vào loại hay nhất là những bài ông viết về những con người bất hạnh như Thái Bình mại ca giả (Người hát rong ở thành Thái Bình) viết về một ông già mù đi hát rong để kiếm ăn; Hà Nam đạo trung khốc thử (Nắng dữ trên đường đi ở Hà Nam) viết về một ông già khác kéo xe giámỠmột buổi trưa trời nắng gắt; Sở kiến hành (Bài hành về những điều trông thấy) viết về bốn mẹ con một người đi ăn xin sắp chết đói; Trở binh hành (Bài hành về việc binh đao làm nghẽn đường) viết về những người nông dân chết đói ở Hà Nam... Đặc biệt những bài Long Thành cầm giả ca (Bài ca người gảy đàn ở Long Thành), Điếu La Thành ca giả (Viếng người ca nữ đất La Thành), Độc Tiểu Thanh kí (Đọc tập Tiểu Thanh kí)... ông viết về những người phụ nữ bất hạnh hết sức xúc động trong Văn chiêu hồn, những câu thơ hay nhất của ông cũng là những câu viết về cô gái làm nghề mại dâm, về người buôn thúng bán gánh, về trẻ em, về người đi ăn xin... Nguyễn Du tha thiết mong cho con người được sống hạnh phúc, được tôn trọng, và ông cực lực tố cáo tất cả những gì là bất công, ngang trái chà đạp con ngườị Về phương diện nghệ thuật, với Truyện Kiều, Nguyễn Du xứng đáng là một bậc thầy của ngôn ngữ văn học dân tộc. Nguyễn Du đã nâng ngôn ngữ văn học dân tộc và cùng với nó ông đã nâng thể loại truyện thơ lục bát lên một đỉnh cao chói lọị Năm 1965, Hội đồng hòa bình thế giới quyết định kỷ niệm 200 năm năm sinh của nhà thơ trên toàn thế giớị Đó là một biểu hiện sự xác nhận công lao đóng góp của nhà thơ cho dân tộc và nhân loạị

..." Dẫu ngày xưa có thể khác bây giờ
Nhưng Chất Nghệ anh tin là vẫn chảy
Trong huyết quản mỗi người quê anh đấy
Sống nơi nào cũng muối mặn gừng cay"...
quanvoliet
#6 Đã Gửi : 20/04/2007 lúc 20:23:18

Tâm huyết

Nhóm: Quản trị

Gia nhập: 27-01-2007
Bài viết: 2.422
Điểm: 4.332
Đến từ: Nhút Thanh chương
Yêu thích: 473
Được cảm ơn 950 lần trong 473 bài.

Võ Thúc Đồng một nhân cách không phai mờ

 

Những năm chống chiến tranh phá hoại ác liệt của không quân và hải quân Mỹ, Đảng bộ, nhân dân Nghệ An thường xuyên bắt gặp phong thái tự tin, quả quyết của Bí thư Tỉnh uỷ Võ Thúc Đồng. Ông có mặt hầu hết các trọng điểm bảo đảm giao thông dọc quốc lộ 1A, đường 7, đường 15 A và dọc tuyến biển từ Lạch Cờn đến Cảng Bến Thuỷ. Khi là chiếc xe gát 69 phủ xanh lá nguỵ trang, có khi chỉ trên chiếc xe đạp Thống Nhất bê bết bùn đất, ông đến với cán bộ, công nhân phà Bến Thuỷ, phà Hoàng Mai, đại đội pháo mặt đất Nghi Yên, Quỳnh Long, Đoàn phòng không 222, 283. Ông kiểm tra từng mố cầu, bến phà và đường kéo pháo vào trận địa.


 Đồng chí Võ Thúc Đồng - nguyên Bí thư Tỉnh ủy với tập thể cán bộ
Báo Nghệ An -1969  (người thứ 4 hàng trước từ phải sang).


&;&np;       Chưa hết, ông ngược rừng đến với Nhà máy Diêm, Nhà máy Phốt phát 3-2, Nhà máy Gỗ, Nhà máy Điện sơ tán tận Thanh Tiên (Thanh Chương), Khe Sừng (Anh Sơn). Rồi ông cùng với lãnh đạo Ty nông nghiệp, huyện Hưng Nguyên, Yên Thành tạo lập nên nhiều cánh đồng 5 tấn lúa ở Tây - Yên- Trung, Phúc, Thọ, Nam Thành để bảo đảm yêu cầu chi viện cho các mặt trận với khẩu hiệu "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Hệ thống nông giang dẫn nước từ ba ra Đô Lương bị bom đạn băm nát ở Lạc Thổ (Yên Thành), ông chỉ đạo thành lập lực lượng xung kích bám trụ suốt 24 giờ, vừa trực chiến đánh máy bay vừa hàn gắn công trình bị phá hỏng. Và hơn ba vạn héc ta lúa vùng Diễn, Yên, Quỳnh vẫn đủ nước vụ chiêm, vụ mùa.

        Chính ông đã gợi ý để ngành Nông nghiệp mạnh tay đưa thêm vụ thu vào vùng chiêm trũng Hưng Nguyên, Yên Thành và Quỳnh Lưu, tăng thêm hàng vạn tấn lương thực. Chưa đủ, ông còn chỉ đạo thành lập hàng chục trại chăn nuôi lợn ở hậu cứ, đưa giống lợn Móng Cái từ Quảng Ninh vào nuôi thuần chủng rồi cung cấp lợn giống cho hàng vạn hộ xã viên nông nghiệp chăm sóc.

Coi trọng vai trò hậu cần tại chỗ của sản xuất công nghiệp thời chiến, ông chỉ đạo quyết liệt thành lập Xí nghiệp phao - phà, cơ khí Nam - Hưng - Nghi, bảo đảm phương tiện vượt sông và nông cụ cầm tay cho nông nghiệp, lâm nghiệp, giao thông vận tải.

     Chẳng ai có thể tin Nghệ An vẫn sản xuất được xà phòng, phân phốt phát, thuốc chữa bệnh, rồi giấy viết trong hoàn cảnh chiến tranh, thiếu điện cao thế, đường sá liên tục bị tắc. Công lao ấy, thành công ấy không thể không nhắc tới vai trò lãnh đạo của đồng chí Võ Thúc Đồng, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An.

       Từng là phóng viên chiến tranh, tưng có nhiều chuyến công tác theo chân Bí thư Tỉnh uỷ, tôi bắt gặp ở ông một phong cách chỉ đạo báo chí rất sắc sảo và mang đậm chất nghề nghiệp. Ông luôn đặt vấn đề có tính khái quát và gợi ý để nhà báo nêu quan điểm, cách thể hiện ra sao một chủ đề tư tưởng. Đi công tác ở đâu, ông đều gọi nhà báo đi cùng. Xem xong mỗi số báo, ông đều điện thoại trao đổi thẳng thắn với Tổng biên tập Nguyễn Hường những hạn chế về nội dung, hình thức thể hiện.

     Tôi đã được xem bút tích của ông trên từng trang báo, thậm chí từng cái tít của bài báo. Nhìn nét bút dọc, ngang, khoanh tròn của ông trên trang báo, nếu thiếu tự tin, người làm báo hẳn không đủ kiên nhẫn để theo nghề. Nhưng lạ kỳ là khi trao đổi trực tiếp với phóng viên về những sai sót, ông lại rất chân tình, để rồi sau đó ông chỉ đạo Ban biên tập cử phóng viên đi học dài hạn, ngắn hạn cả về lý luận và nghiệp vụ chuyên môn. Các nhà báo Thanh Phong, Lê Quý Kỳ, Tô Quốc Bảo, Lăng Phước, Bùi Ngọc Trình, Dương Huy, Văn Hiền đã trưởng thành bởi sự quan tâm cụ thể của ông. Tôi còn nhớ khi được Đảng và Nhà nước cử làm Đại sứ tại Liên Xô, khi về nước, ông đã đến Báo Nghệ An thăm hỏi từng nhà báo, nhắc từng tính cách của phóng viên rồi cười khà khà sảng khoái. Quà của ông là chiếc máy ảnh Gooc-ky chụp phim đen trắng và một lần khác là một máy ghi âm chạy pin Văn Điển. Mãi sau này khi làm Chủ nhiệm Uỷ ban nông nghiệp Trung ương (như Bộ trưởng nông nghiệp hiện nay) ông vẫn luôn quan tâm tới Báo Nghệ An, theo dõi từng bước trưởng thành của một số nhà báo.

     Cho tới lúc tôi chuẩn bị tư liệu viết cuốn sách "Báo chí cách mạng Việt Nam trong nhà lao thực dân Pháp", tiếp xúc ông, nhờ ông thẩm định nguồn gốc xuất bản tờ báo "Ý kiến chung" trong nhà tù Côn Đảo, giai đoạn 1939-1944, tôi mới được biếgoÃngoài đồng chí Tôn Đức Thắng, còn có Võ Thúc Đồng là người sáng lập nên tờ báo đặc biệt này. Phải chăng tố chất nhà báo, kinh nghiệm làm báo mà ông truyền cho lớp hậu sinh bắt nguồn từ những năm bị tù đày khắc nghiệt mà vẫn kiên trinh đấu tranh bằng vũ khí báo chí.

      Những ngày này các bậc lão thành cách mạng, đồng chí và nhân dân tỉnh nhà xúc động, thương tiếc tiễn đưa ông về cõi vĩnh hằng. Báo Nghệ An, cơ quan của Đảng bộ tỉnh nhà, một thời được ông chăm nom, dìu dắt xin thắp nén tâm nhang kính cẩn tưởng nhớ ông, biết ơn ông về một thời làm báo kháng chiến gian nan mà sâu nặng nghĩa tình.

Văn Hiền

Báo Nghệ An 

 

 

Tin buồn

 


Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao, Tỉnh uỷ Nghệ An và gia đình vô cùng thương tiếc báo tin:

Đồng chí Võ Thúc Đồng, sinh tháng 9/1914 tại xã Thanh Ngọc, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Tham gia cách mạng từ 02/1930; vào Đảng tháng 10/1930. Thường trú tại nhà số 5, ngõ 4C, phố Đặng Văn Ngữ, quận Đống Đa - Hà Nội; nguyên Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III, khoá IV, nguyên Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương, Bí thư Đảng đoàn, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp; Chủ nhiệm Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương;

Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước ta tại Liên Xô; Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An; Phó Bí thư Khu uỷ Liên khu 4; Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Bình; Bí thư Tỉnh uỷ Kon Tum; Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Quân khu 4; Chính uỷ Mặt trận Trung Lào; Uỷ viên Ban cán sự toàn Lào; nghỉ hưu năm 1986.

Do có nhiều công lao đồng chí đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất; Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang; Huân chương Hữu nghị do Đảng và Nhà nước Liên Xô trao tặng; Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Đã từ trần hồi 16 giờ 57 phút ngày 27-3-2007 tại Bệnh viện Hữu nghị - Hà Nội.
Lễ viếng bắt đầu từ 7 giờ 30 phút ngày 03/4/2007 (tức ngày 16 tháng Hai năm Đinh Hợi) tại Nhà tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông - Hà Nội.

Lễ truy điệu và đưa tang vào hồi 10 giờ cùng ngày. An táng tại nghĩa trang Mai Dịch - Hà Nội.

TIỂU SỬ TÓM TẮT


Đồng chí Võ Thúc Đồng, sinh tháng 9-1914, tại xã Thanh Ngọc (Thanh Chương, Nghệ An), tham gia cách mạng từ tháng 2-1930, vào Đảng tháng 10-1930. Thường trú tại nhà số 5, ngõ 4C, phố Đặng Văn Ngữ (quận Đống Đa, Hà Nội).


Chức vụ: Uỷ viên Ban Chấp hành T.Ư Đảng khoá III và IV, nguyên Trưởng ban Nông nghiệp T.Ư; Bí thư Đảng đoàn; Chủ nhiệm Uỷ ban Nông nghiệp T.Ư; Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước ta tại Liên Xô; Bộ trưởng Nông nghiệp; Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An; Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Bình và Bí thư Tỉnh uỷ Kon Tum.


Khen thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất; Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang; Huân chương Hữu nghị do Đảng và Nhà nước Liên Xô trao tặng; Huy hiệu 70 năm tuổi đảng.

Quá trình hoạt động cách mạng và làm việc: Năm 1930-1931: làm Bí thư chi bộ, công tác trong Ban Giao thông của huyện, Bí thư Tổng uỷ, Ban Thanh vận huyện và ấn loát tỉnh.


Cuối năm 1931, bị địch bắt đi tù ở các nhà tù: Vinh, Lao Bảo, Côn Đảo.


Tháng 9-1945: Tham gia Tỉnh uỷ Biên Hoà, Bí thư Tỉnh uỷ Kon Tum, Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Bình, Chánh Văn phòng Khu uỷ, Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Bình kiêm Chính uỷ Trung đoàn 18, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Chính uỷ Mặt trận Trung Lào, Uỷ viên Ban cán sự toàn Lào.


Năm 1957 làm Phó Bí thư Khu uỷ Liên khu 4 kiêm Trưởng ban Tổ chức Khu uỷ.


Đầu năm 1959 làm Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An; Uỷ viên Ban Chấp hành T.Ư Đảng khoá III.


Cuối năm 1971, Đại sứ đặc nh ‡nh toàn quyền nước ta tại Liên Xô.


Từ đầu năm 1974, Quyền Chủ nhiệm, Chủ nhiệm Uỷ ban Nông nghiệp T.Ư, Bí thư Đảng đoàn.


Từ giữa năm 1976, Bộ trưởng, Bí thư Đảng đoàn Bộ Nông nghiệp.


Từ tháng 12-1976, được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành T.Ư Đảng (khoá IV), Bộ trưởng Nông nghiệp, Bí thư Đảng đoàn Bộ Nông nghiệp.


Từ năm 1977 làm Trưởng ban Nông nghiệp T.Ư. Đến tháng 9-1986, về hưu.

Nguồn Báo Nghệ An

quanvoliet39192.8567708333
..." Dẫu ngày xưa có thể khác bây giờ
Nhưng Chất Nghệ anh tin là vẫn chảy
Trong huyết quản mỗi người quê anh đấy
Sống nơi nào cũng muối mặn gừng cay"...
quanvoliet
#7 Đã Gửi : 20/04/2007 lúc 20:25:42

Tâm huyết

Nhóm: Quản trị

Gia nhập: 27-01-2007
Bài viết: 2.422
Điểm: 4.332
Đến từ: Nhút Thanh chương
Yêu thích: 473
Được cảm ơn 950 lần trong 473 bài.

Đại tướng Chu Huy Mân - vị cố vấn lỗi lạc của Cách mạng Lào

Tình cờ gặp tại Triển lãm mỹ thuật kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên, với tư cách hoạ sĩ tôi được Đại tướng Chu Huy Mân, vị Chính uỷ ngày ấy của Đại đoàn 316 huyền thoại với cuộc công phá đồi A1, nhận lời thỏa mãn ước vọng của tôi là làm giàu thêm bộ sưu tập ký hoạ chân dung các danh nhân Việt Nam, bằng cách mời tôi đến nhà, 36 "phố nhà binh" Lý Nam Đế. Ngẫu nhiên hơn, cuộc hẹn lại đúng vào ngày Đại thắng 30/4.

Như lời xin lỗi vì đến hơi trễ, tôi tặng ngay ông bức ảnh chụp chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà tôi ký hoạ. Chu Huy Mân hồ hởi nhận rồi đáp lại, Đại tướng tẠtặng tôi, và cho cả vợ con tôi nữa, cuốn hồi ký Thời sôi động của ông "ra lò" mới đầu năm.

Hồi ký này mới đến 1975, tròn 45 năm hoạt động cách mạng. Còn mười năm làm Bộ chính trị thì chưa viết - Chu Huy Mân chủ động giải thích - Cuộc đời của tôi thật sôi động nhưng cũng thật gian nan. Vậy thưa Bác, giai đoạn nào là gian nan nhất, vừa hỏi tôi vừa tranh thủ "hành nghề". Là thời kỳ làm Trưởng Đoàn cố vấn quân sự giúp bạn Lào xây dựng bộ đội, mật danh là Đoàn 100 vì biên chế vừa đúng 100 người, đặt chân lên đất bạn chỉ sau chiến thắng Điện Biên Phủ có 4 tháng. Trước lúc lên đường, Bác Hồ căn dặn: "Giúp bạn là tự giúp mình nhưng phải bồi dưỡng bạn làm chủ từng việc cho đến làm chủ toàn diện chứ không bao biện làm thay". Quán triệt là vậy nhưng khi vào cuộc thì trời ơi, gian nan lắm! Giúp bạn học từ nấu ăn trở đi vì bạn nấu ăn cho 5 người thì được chứ cho một tiểu đội thì không làm nổi. Ngay anh Bảy (tên thường gọi của đồng chí Caysỏn Phômvihản, Bộ trưởng Quốc phòng Neo Lào Hăcxạt), thoạt đầu cũng cứ nhờ tôi viết dùm tài liệu. Nhớ lời Bác nên tôi nói không. Anh cứ viết, cái gì của anh là của người Lào, tôi là người Việt Nam nên không thể được. Còn anh hỏi gì thì tôi sẵn sàng trả lời. Vậy mà ông ấy cũng suy nghĩ lung lắm. Sau một năm, tự thấy trưởng thành, anh Bảy có làm một bữa cơm mời tôi, đơn giản thôi với tý thịt và ít rượu. Khề khà, anh Bảy nói ông Mân giỏi thật, biết biến cái của ông thành cái của mình.

Dĩ nhiên, trong đời "cố vấn" của tôi có nhiều sự kiện đáng nhớ, nhưng tựu trung lại vẫn liên quan đến anh Bảy. Đầu tiên là chuyện ông ấy lấy vợ. Rất thật thà ông ấy hỏi: "Anh khuyên tôi nên lấy vợ Việt Nam hay lấy vợ Lào? Tôi thì muốn lấy vợ Việt Nam"!

Thì cũng là lẽ thường tình bởi người con ưu tú của các bộ tộc Lào ấy đã gắn bó với Hà thành cả trên chục năm, mà lại suốt từ thuở hoa niên. Còn nhớ xong tiểu học, Caysỏn sang Hà Nội học tiếp trung học ở Trường Bảo hộ rồi vào học Trường Luật cho đến năm 1945 thì về nước để tham gia giành chính quyền ở tỉnh Xavanakhẹt từ tay phát xít Nhật. Để nói, Việt Nam đã trở thành quê hương thứ hai của ông theo đúng nghĩa đen của từ này!

Việc tình cảm thì tôi không dám nói, nhưng lấy vợ Việt Nam sẽ là một cái "vướng" đối với sự nghiệp cách mạng dân tộc mà anh đang tiến tới bởi dẫu sao cũng mang tiếng lấy vợ ngoại. Vậy là anh Bảy nghe theo và bà vợ người Lào của ông ấy đây - vừa nói người lính già đầu bạc vừa giở cuốn Hồi ký, chỉ vào một người con gái thật xinh xắn đang bế một cháu bé kháu khỉnh trong bức hình chụp chung với vợ chồng Tổng bí thư Đảng bạn vào năm 1956. Chỉ tích tắc xuất thần này thôi, người viết bài này thầm nghĩ, cũng đủ để tôn vinh Chu tướng quân "Cố vấn hay nhất mọi thời đại". Và cũng chỉ qua chi tiết này thôi mà rực sáng cái tâm, cái vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh chủ nghĩa Sô vanh, chủ nghĩa nước lớn đang ám trùm thiên hạ. Sự kiện thứ hai liên quan đến tổ chức lễ tang Thao Tu, hy sinh vì mìn của phỉ Vàng Pao. Ông này không những có công đưa Tiểu đoàn dù 2 của Coongle rời Viên Chăn để cùng với quân Pa thét Lào lập căn cứ chống quân phái hữu Nôsavẳn mà trước hết là người rất có uy tín với dân tộc Mẹo (Lào Sủng). Nhận được điện báo của Trưởng Đoàn cố vấn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cấp thời điện lại, nêu rõ ý kiến của Bác Hồ là phải làm lễ tang thật chu đáo. Ý nhà là vậy, nhưng thực hiện lẽ dĩ nhiên là do bạn.

Sự cố là chiều hôm ấy tôi chưa kịp bàn thì anh Bảy đã giao cán bộ dưới quyền chôn cất cho xong vào sáng hôm sau bởi ông ấy rất mệt sau mấy ngày bị sốt cao. Ông ấy đắp chăn ngủ sớm còn tôi quấn chăn ngồi, thao thức. Khoảng 2 giờ sáng, anh Bảy dậy hỏi anh Chăn (Thao Chăn, tên Lào của Chu Huy Mân) không ngủ à. Ánh trăng làm không ngủ được. Anh làm được một giấc rồi à. Anh rửa mặt rồi ta uống nước nói chuyện. Thế có chuyện gì? Chuyện Thao Tu chứ chuyện gì. Không được, vừa rồi anh giải quyết như thế không được. Thao Tu là lãnh tụ của dân tộc Mẹo, chính sách của Lào là chính sách đại đoàn kết các bộ tộc. Anh phải cử một đồng chí làm trưởng ban tang lễ, tốn bao nhiêu cũng được, tuỳ theo nghi lễ của người Mẹo mà làm thật trang trọng, làm bữa cơm đàng hoàng mời đồng bào đến viếng... Nếu không, mai kia có vấn đề gì thì ai ủng hộ Neo Lào Hăcxạt. Và đây cũng là ý Bác Hồ. Bác nói thế à, mình phải sửa sai thôi, rồi chỉ đạo tổ chúc tang lễ đúng như thế, với anh Phumi Vôngvichít làm Trưởng ban.

Sự kiện thứ ba là vào năm 1981, khi Đảng Nhân dân cách mạng Lào chuẩn bị tiến hành Đại hội lần thứ IV. Anh Bảy lúc đó đang ở TP. Hồ Chí Minh, điện cho tôi vào Nha Trang gấp để làm việc. Gặp tôi anh đưa cho xem danh sách uỷ viên Trung ương khoá trước và danh sách dự kiến uỷ viên Trung ương khoá sau để hỏi ý kiến. Tôi trả lời ngay là việc xem nên để ai vào danh sách dự kiến là việc nội bộ của các anh, tôi không thể tham gia. Ngược lại, tôi đề nghị anh Bảy làm kỹ Báo cáo chính trị, tức vạch rõ đường lối của Đại hội là thế nào, rồi căn cứ vào đó mà đề ra tiêu chuẩn uỷ viên Trung ương làm cơ sở để lựa chọn nhân sự. Ngừng một chút, Chu Huy Mân tiếp - Bản chất người Lào là rất thật thà, nhưng vấn đề ở đây là sự tin tưởng tuyệt đối. Đúng là tin tưởng tuyệt đối!

Chu Huy Mân hẹn tôi sau 11/5 khi Quốc Hội họp xong sẽ lại ngồi "mẫu" cho tôi và sẽ kể tôi nghe đời ông sau ngày Đại thắng, dẫu vui, dẫu buồn. Dừng lại trước cửa, đột ngột ông bảo: "Mình là nhà thơ đấy"! Rồi, ông nhờ tôi chuyển lời thăm đến nhà thơ Huy Cận thân phụ tôi. Không tin thế nào được, tướng quân ôi! Đã sinh từ xứ Nghệ mặn mòi ai chẳng là thi sĩ, đời gian nan càng nuôi dưỡng hồn thơ... Thế rồi, như bất cứ ai sống có trách nhiệm với đời, với con người, cả ông, cả tôi đều hút vào những sự kiện vô định đề rồi khoảng cách hai năm giờ đã thành vô tận. Khóc ông, vị Đại tướng Việt Nam văn võ song toàn, vị Cố vấn lỗi lạc của Cách mạng Lào, kẻ hậu bối này sinh nhằm Quốc Khánh xứ sở Triệu Voi xin đªn ên lề của Thời sôi động...

Hoạ sỹ Cù Huy Hà Vũ

Nguồn Báo Nghệ An

..." Dẫu ngày xưa có thể khác bây giờ
Nhưng Chất Nghệ anh tin là vẫn chảy
Trong huyết quản mỗi người quê anh đấy
Sống nơi nào cũng muối mặn gừng cay"...
quanvoliet
#8 Đã Gửi : 14/05/2007 lúc 08:11:01

Tâm huyết

Nhóm: Quản trị

Gia nhập: 27-01-2007
Bài viết: 2.422
Điểm: 4.332
Đến từ: Nhút Thanh chương
Yêu thích: 473
Được cảm ơn 950 lần trong 473 bài.

Một gia đình, năm tiến sĩ

 Đó là gia đình giáo sư tiến sĩ khoa học Trần Hữu Uyển. Ông Trần Hữu Uyển sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, đông anh chị em ở xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương (Nghệ An).

Từ trái sang phải: GS Trần Hữu Uyển, TS Tùng Lâm, TS Hữu Sơn, TS La Anh, TS Việt Nga

Sau khi tốt nghiệp cấp II (Trung học cơ sở), Trần Hữu Uyển thi vào trường cấp III (Trung học phổ thông) Huỳnh Thúc Kháng.

Sau 1954, ở miền Bắc số trường cấp ba còn rất ít. Nghệ An là một trong những tỉnh có trường cấp III mang tên nhà chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng.

Trường Huỳnh Thúc Kháng đã có từ thời kháng chiến chống Pháp sau 1945 và đã đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước. Sau năm 1954, trường Huỳnh Thúc Kháng được chuyển về thành phố Vinh. Tốt nghiệp cấp III, Trần Hữu Uyển được gửi sang Trung Quốc học đại học.

Tốt nghiệp Đại học ở Trung Quốc, về nước Trần Hữu Uyển được phân về công tác ở Bộ Ngoại giao. Nhưng anh từ chối và xin về trường Đại học Xây dựng để làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Sau vài năm giảng dạy, Trần Hữu Uyển được cử sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh. Nhận tấm bằng Phó tiến sỹ ở Liên Xô, Trần Hữu Uyển trở về trường Đại học Xây dựng vừa giảng dạy vừa hướng dẫn luận văn tốt nghiệp cho nhiều sinh viên.

Đầu những năm 1970, Trần Hữu Uyển lại được cử sang Liên Xô nghiên cứu để hoàn thành học vị Tiến sỹ về đề tài môi trường nước.

Trần Hữu Sơn, con trai  đầu của giáo sư Trần Hữu Uyển sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, cũng được gửi sang Liên Xô học đại học. Năm 2002, Trần Hữu Sơn được cử sang Nga làm nghiên cứu sinh.

Năm 2005, Trần Hữu Sơn nhận học vị tiến sĩ và về nước nhận công tác ở trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.

Trong thời gian học ở Liên Xô, Trần Hữu Sơn đã thành hôn với chị Nguyễn La Anh, con gái nhà biên đạo múa Nguyễn Trọng Lanh. Chị La Anh là Tiến sỹ ngành tin học, hiện công tác tại Viện Công nghệ thực phẩm.

Cô con gái thứ hai của giáo sư Trần Hữu Uyển là Trần Việt Nga (kỷ niệm thời kỳ ông ở Nga). Trần Việt Nga là học sinh giỏi của trường THPT Hà Nội Amsterdam.

Đỗ vào trường Đại học Xây dựng, học tập và tốt nghiệp xuất sắc, Trần Việt Nga được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy. Năm 1998 Trần Việt Nga sang Thái Lan học tại Học viện Công nghệ Đông Nam Á (AIT).

Sau khi nhận bằng thạc sỹ loại xuất sắc, Trần Việt Nga được cử sang Nhật học tiếp và nhận học vị tiến sỹ tại trường Đại học Tokyo và được nhà trường mời ở lại nghiên cứu thêm hai năm chương trình sau tiến sỹ (Posdoc).

Trong thời gian học tập tại Nhật, Trần Việt Nga đã thành hôn với tiến sỹ Nguyễn Tùng Lâm là con trai nhà văn Xuân Tùng, nguyên Phó Giám đốc NXB Hội Nhà văn, Phó Tổng biên tập tạp chí nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam.

Như vậy gia đình giáo sư TSKH Trần Hữu Uyển là một gia đình có truyền thống chăm học, đã có hai người con đẻ và hai người là dâu và rể đều có học vị Tiến sỹ như bố.  

Nguồn :Báo Tiền Phong

..." Dẫu ngày xưa có thể khác bây giờ
Nhưng Chất Nghệ anh tin là vẫn chảy
Trong huyết quản mỗi người quê anh đấy
Sống nơi nào cũng muối mặn gừng cay"...
hoai_duc21
#9 Đã Gửi : 16/05/2007 lúc 22:05:09

Tâm huyết


Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 23-03-2007
Bài viết: 374
Điểm: -7
Đến từ: Anh Sơn
Yêu thích: 0
Được cảm ơn 4 lần trong 4 bài.

Ông chủ rừng 8X

 

Sinh năm 1983, con đường học hành không như ý muốn, Nguyễn Quảng Quyền (xã Sơn Thọ - Vũ Quang – Hà Tĩnh) đã chọn cho mình con đường đi riêng, đó là trồng rừng. Ở tuổi 24, anh được mệnh danh là ông chủ rừng.

16 tuổi vật lộn với rừng

Tốt nghiệp THCS, vì gia đình quá khó khăn, đông anh em, nên Nguyễn Quảng Quyền phải dừng việc học ở nhà phụ giúp bố mẹ nuôi các em ăn học. Trong lòng chàng trai trẻ luôn nung nấu khát vọng vươn lên. Nhưng ở trên mảnh đất nghèo này, đủ ăn đã là may lắm rồi, nói gì chuyện làm giàu.

Tháng 3/1999, khi có chính sách giao đất, giao rừng cho người dân quản lý và khai thác, Quyền khi   đó mới 16 tuổi nên phải nhờ bố làm đơn xin chính quyền xã giao đất lập trang trại. Nghe vậy, ai cũng ngạc nhiên.

Cuối cùng, khi nhận được hơn 10 ha đất trống đồi trọc, Quyền bắt tay thực hiện ước mơ của mình. Trèo đèo lội suối, dựng trại ngay trên đồi, một mình Quyền hàng ngày đào hố trồng cây.

Đường sá cách trở, thiếu vốn,  thiếu phân bón, cây giống nhưng Quyền vẫn quyết tâm bám trụ. Có những lúc anh ở lại hàng tháng trời để chăm sóc những cây con mới trồng. 10 ha đất nhận được anh chia làm ba phần: 5 ha trồng keo, 3 ha trồng dó và gần 2 ha trồng cam.

Năm 2001, Quyền được vay 10 triệu đồng từ vốn của chương trình Thanh niên lập nghiệp. Anh đầu tư hết vào cây giống và phân bón, rồi bôn ba khắp nơi học hỏi kinh nghiệm trồng rừng. Nghe nơi đâu có mô hình trồng rừng tốt là anh tìm đến. Khai hoang, trồng mới, Quyền còn xin nhận 2 ha rừng nguyên sinh của xã để bảo vệ.

Ông chủ rừng tuổi 24

Những ngày tháng khó khăn dần qua đi, khi mảnh đất khô cằn đã chịu khuất phục trước ý chí và nghị lực của chàng trai trẻ. Gần 10 ha đồi trọc đã được phủ xanh, hơn 4.000 gốc keo, 2.000 gốc dó đã đến tuổi trưởng thành, 1.500 cây cam đã bắt đầu cho quả ngọt. Mùa thu hoạch đầu tiên chỉ tính riêng cam đã đem lại cho Quyền gần 50 triệu đồng.

Bên cạnh đó anh còn mở rộng chăn nuôi trâu bò, tổng thu nhập hằng năm lên đến hàng trăm triệu đồng. Quyền trở thành ông chủ của hơn 12 ha rừng cùng một vườn cây ăn quả.

Không dừng lại đó, anh làm đơn xin xã cấp thêm đất để trồng mới thêm rừng, đồng thời còn dự định mở xưởng chế biến lâm sản, nhằm tạo đầu ra cho những sản phẩm từ rừng.

Thành công của Quyền đã mở ra hướng đi cho nhiều thanh niên trong xã. Mô hình trồng rừng của anh được phổ biến rộng rãi. Nhưng thành quả lớn nhất chính là niềm tin vào rừng, vào hiệu quả mà rừng mang lại cho người dân miền sơn cước này.

Liên tục trong nhiều năm liền, Nguyễn Quảng Quyền là đại biểu thanh niên tiên tiến của huyện. Mân mê tấm Bằng khen Đoàn Thanh niên trao tặng, Quyền tâm sự: “Em còn nhiều dự định lắm, mơ ước lớn nhất của em là một ngày không xa, không còn những bãi đất trống đồi trọc, khắp nơi là màu xanh của núi rừng”.  

hoai_duc2139218.9229513889
quanvoliet
#10 Đã Gửi : 26/05/2007 lúc 11:23:49

Tâm huyết

Nhóm: Quản trị

Gia nhập: 27-01-2007
Bài viết: 2.422
Điểm: 4.332
Đến từ: Nhút Thanh chương
Yêu thích: 473
Được cảm ơn 950 lần trong 473 bài.

PGS.TS Trần Đình Hượu - Nửa thế kỷ tìm biết với những niềm khắc khoải tri thức

Hơn mười năm đã qua kể từ ngày ông tạ thế, có lẽ đã có một độ lùi về thời gian cần thiết để có thể bình tĩnh và khách quan nhìn nhận lại những gì ông đã làm được, đã góp cho đời qua một cách thức có lẽ ít giống với những "người đương thời".

Điều dễ nhận ra là ông được biết tới, được tìm đọc, được tiếp nhận và chia sẻ ngày một nhiều hơn trong mười năm qua, hẳn đó cũng là một ngoại lệ so với rất nhiều những tên tuổi cùng thế hệ. Bình sinh, ông không bao giờ nỗ lực để tìm kiếm sự nổi tiếng, những đặc quyền cả vật chất lẫn tinh thần. Giờ đây, sau một thập kỷ buộc phải chia lìa với ông, người viết những dòng này vẫn còn thấy chưa thể viết hết, nói đủ được về người thầy đặc biệt gần gũi của mình.

Không biết vì sao, nhưng sinh thời, Trần Đình Hượu không mấy khi đề cập đến vấn đề tuổi tác, của cả chính mình lẫn của người kh Ng. Ngày tháng năm sinh của ông được ghi trong các loại giấy tờ để lại từ thời Pháp thuộc vốn đã không phải là ngày tháng năm sinh thật. Mãi đến giữa những năm tám mươi của thế kỷ trước, thời điểm áng chừng ông ngót sáu mươi tuổi, mà mình sẽ có một thời gian khá dài đi xa, tôi đã phải gặng hỏi ông về ngày sinh thực. Ngần ngại, lưỡng lự khá lâu rồi ông mới cho biết, rằng ông sinh vào ngày rằm tháng 11 âm lịch. Thế còn năm sinh? Ông chỉ cười mà bảo rằng, hồi nhỏ, vì nhà nghèo, sức khỏe lại không tốt, con nhà nho không đến chính quyền làm khai sinh ngay, cũng tương tự như con cái tất cả những gia đình nông dân khác, nên không có giấy khai sinh gốc. Chỉ khi đến tuổi đi học, người cậu "học trường Tây" mới đưa cháu đi làm giấy tờ.

Sinh trưởng trong một gia đình thế Nho, tuy về kinh tế là thuộc tầng lớp bần nông, "tên chữ Hán" của ông là Hậu, nghĩa là "dày". Thân phụ ông thuộc lớp đàn em - học trò của Phan Bội Châu (sinh vào khoảng 1871 - 1872), và như hầu hết các nhà nho Nghệ Tĩnh có khí tiết, có tâm huyết với thời vận, cũng noi gương Phan Bội Châu mà giáo dục con em theo tinh thần của khẩu hiệu "Chẳng thèm chơi, chẳng thèm mặc, chẳng thèm ăn...". Quê ông, một trong những vùng mang những đặc trưng "xứ Nghệ" điển hình, cả đất lẫn người, không ngẫu nhiên lại là điểm bùng nổ đầu tiên của phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh: làng Võ Liệt, huyện Thanh Chương, Nghệ An.

Là con trai duy nhất trong một dòng họ mà nhiều thế hệ trước thường là độc đinh, nên tuy không là "con một", từ thuở bé ông cũng được cả nhà thương chiều, dù sự thương chiều trong gia cảnh của một hàn Nho chủ yếu cũng chỉ nghiêng về phương diện tinh thần. Sự cố quan trọng đầu đời, nằm ngoài khả năng tự quyết của bản thân xảy ra lúc ông 7 tuổi, là việc ông mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo. Là một danh y, thân phụ ông phải cân nhắc rất lâu rồi cũng phải đi đến quyết định sử dụng cho ông một bài thuốc đặc biệt. Sau khi khỏi bệnh, nói theo ngôn ngữ y học cổ truyền, là "tiên thiên" của ông bị biến đổi (về sau này vì thế có những loại thuốc điều trị theo Tây y ông dùng không có hiệu quả). Vị ngọt ngào tuổi thơ mà ông được hưởng không kéo dài, vì đến năm Phan Bội Châu ốm rồi mất, thân phụ ông dường cũng theo gót (1940), lúc đó ông mới 14 tuổi.

Để có thể cho ông theo học ở Huế, thân mẫu ônã ‘ã phải bàn bạc với quyến thuộc mãi rồi mới đi đến một quyết định khó khăn: bán đi những đám ruộng cuối cùng của gia đình. Học hết bậc Thành chung ở Huế thì cũng vừa lúc Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Chàng "hàn sĩ" sắp vào tuổi 20 ấy nhanh chóng trở về quê, nhanh chóng tham gia vào phong trào Việt Minh ở một trong những "cái nôi của cách mạng". Từ xã, ông được điều lên huyện, rồi lên tỉnh, lên khu, khi thì làm công tác tuyên huấn, khi thì trở thành một trong những người lãnh đạo phân hội "những người nghiên cứu chủ nghĩa Mác" ở Nghệ An - một trong những hình thức hoạt động công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương mà do tình thế lúc đó đã tuyên bố tự giải tán, thực chất là rút vào hoạt động bí mật. Rồi ông lại được biệt phái sang trường Đào Duy Từ, một trường chuyên khoa hoàn thiện hệ tú tài, vừa để học bổ túc thêm, vừa tham gia lãnh đạo học viên (làm Hiệu đoàn trưởng, cương vị tương tự như chủ tịch Hội sinh viên sau này). Đến năm 1949, ông chính thức trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Tiếp tục công tác một thời gian nữa, ông được cử đi học hệ dự bị đại học của đại học kháng chiến, cơ sở đại học duy nhất của chính phủ kháng chiến lúc bấy giờ đặt ở vùng tự do Khu IV (Thanh Hóa). Chính ở nơi đây, ông gặp lại, tiếp tục được thụ giáo một số người thầy học cũ thời ở Huế, như các thầy Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Hoài Thanh… và trở thành học trò, rồi trở nên thân thiết với một số thầy khác mà tên tuổi đã từng được ông hâm mộ. Một trong những người thầy từ đó ông gắn bó nhiều nhất - cho đến tận khi ông mất - là nhà cách mạng, học giả nổi tiếng Trần Văn Giàu.

Học xong lớp đại học này, ông được cử về Trường Trung học Huỳnh Thúc Kháng (Nghệ An), cũng là trường trung học hiếm hoi của Khu IV lúc bấy giờ, vừa làm giáo viên, vừa tham gia Ban lãnh đạo, trực tiếp làm công tác đảng. Sau đó không lâu ông lại được gọi về, lần này thì được lựa chọn để đi học nước ngoài, cụ thể là được cử đi nghiên cứu sinh triết học ở Liên Xô. Sau gần một năm học tiếng Nga, mùa thu 1959 ông sang Matxcơva, chính thức trở thành một trong những nghiên cứu sinh triết học thế hệ đầu tiên của nước Việt Nam mới kể từ sau năm 1945. Trần Đình Hượu được gửi đào tạo ở Khoa Triết học, Trường Đại học Tổng hợp Lômônôxốp (Liên Xô), một trong những cơ sở đại học nổi tiếng thế giới, từng và lúc bấy vẫn đang sở hữu những tên tuổi lừng danh trong nền học vấn quốc tế, trong đó có các nhà triết học. Người hướng dẫn khoa học cho ông là Giáo sư V.Ph.Asmus, một tên tuổi lẫy lừng của giới Triết học quốc tế lúc bấy giờ, Chủ tịch Hội những người nghiên cứu triết học toàn Liên bang, đó chính là người có ảnh hưởng to lớn, toàn diện và lâu dài đến những chặng đời sau này của ông. Sự tin cậy, niềm yêu mến của người thầy khả kính ấy đã động viên Trần Đình Hượu vững vàng trong sự lựa chọn đối tượng và cách thức nghiên cứu khoa học, cũng khiến ông tự thấy phải vượt lên chính mình, vượt lên khỏi những hạn chế do hoàn cảnh của môi trường khoa học ở đất nước mình.

Sau khi về nước (năm 1963), ông đề nghị được chọn cơ quan công tác mới là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và đề nghị đó được chấp nhận. Nhưng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, lúc ấy là cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản chủ yếu và quan trọng nhất nước lúc bấy giờ, cũng chưa có chuyên ngành Triết học, dù chỉ »›iới dạng một bộ môn. Được phiên chế về Khoa Ngữ văn và Trần Đình Hượu không rời Khoa Ngữ văn từ đó (1963) cho đến ngày nhận quyết định về hưu (1993), dù có những thời điểm ông đã được đề nghị chuyển sang làm công tác quản lý ở một cơ sở khoa học khác.

Năm 1981, ông được xét phong Phó giáo sư. Tên tuổi Trần Đình Hượu không xa lạ gì trong cộng đồng sinh viên Khoa Ngữ văn nhiều thế hệ, các nhà chuyên môn thực thụ, kể cả các nhà quản lý khoa học, nhưng thực sự còn lạ lẫm đối với công chúng độc giả rộng rãi. Và tình trạng đó vẫn được tiếp tục cho đến tận thời điểm 1985 - 1986. Tính lại, thời gian nhà khoa học có được sự bình ổn về tâm lý để có thể yên tâm sáng tạo và công bố những sáng tạo phẩm, thì chỉ được trên dưới 10 năm, tức chỉ có thể làm khoa học lúc bất cứ ai đó khác cũng đang chuẩn bị về hưu, tuổi "lục thập nhi nhĩ thuận", thời điểm mà hàng loạt dấu hiệu của tuổi già và bệnh tật xuất hiện là điều không sao tránh khỏi. Nhìn vào mục thời gian các công trình của ông đã được công bố, độc giả hiện nay dễ dàng chứng thực điều tôi vừa nói.

GS.NGND Nguyễn Kim Đính, một trong những người bạn quen biết với ông đã hơn 50 năm nay, vào thời điểm ông qua đời đã ghi lại những hồi ức cảm động. Xin được dẫn ra đây đôi đoạn: "...Tính anh vẫn vậy, biết chắc sắp lìa đời cũng vậy. Anh không muốn vợ con, bạn bè thân thiết quá lo âu, đau đớn, hốt hoảng vì anh. Trước đây, trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ, ác liệt, thậm chí có những lúc công việc tâm huyết của anh bị đánh giá, nhận xét sai lệch, bạn bè gần gũi chẳng bao giờ nghe anh thốt lên một lời ca thán. Anh lẳng lặng, cần mẫn theo đuổi những gì anh suy nghĩ đằm chín với niềm tự tin sâu sắc và với cốt cách Nho phong khẳng khái được hấp thụ từ nền văn hóa "ngang bằng, sổ ngay" vốn là truyền thống gia đình.

Năm 1948, khi "anh đồ Nghệ" Hượu vào học ở Trường Trung học chuyên khoa Đào Duy Từ (Thanh Hóa) lập tức cả lớp chúng tôi coi anh như anh cả của lớp. "Không phải chỉ vì anh hơn chúng tôi ba, bốn tuổi mà còn vì kiến thức sâu rộng nhiều mặt hơn hẳn chúng tôi cùng tác phong điềm đạm của anh...".

Nhà khoa học, triết gia cộng sản Trần Đình Hượu đã được giao nhiệm vụ một lần từ rất sớm, vào thời trai trẻ, để rồi tự mình biến nó thành bổn phận chung thân: góp phần xác định, chính xác hóa con đường mà đất nước sẽ và phải đi tới trong quỹ đạo hiện đại hóa chung của thế giới. Từ một giác độ nhất định, nhiệm vụ đó cũng có nghĩa là phải thực hiện việc nghiên cứu các học thuyết mang tính triết học - ý thức hệ đã từng tồn tại, tiếp nối lẫn nhau và để lại những kết quả trong logic khách quan của sự vận động của lịch sử quốc gia - dân tộc. Nhưng nhiệm vụ định ra con đường ấy càng về sau càng không còn là, không thể là nhiệm vụ của cá nhân, dù là các cá nhân - nhà khoa học hay nhà tư tưởng, mà trên thực tế, đã được thu hồi về chỗ các nhà hoạch định chiến lược của Đảng và Chính phủ, về chỗ các nhà lãnh đạo cao cấp.

Không khó hiểu khi quan sát thấy trong di sản mà Trần Đình Hượu để lại có hai bộ phận rõ rệt: những công trình nghiên cứu triết học - lịch sử tư tưởng và những công trình nghiên cứu văn học. Trong bài viết ngắn này, chúng tôi chỉ có thể cùng với độc giả hình dung trên những nét phác họa chung nhất phạm vi những vấn đề mà Trần Đình Hượu đã đào sâu suy nghĩ, bước đầu hệ thống hóa những thành tựu khoa học mà Trần Đình Hượu đã đưa lại cho khoa học xã hội nước nhà. Trong các công trình của ông, có thể nhìn nhận sự chi phối của hai xác tín mang tính tiên đề: Xác tín về tính có quy luật của mọi quá trình vận động của lịch sử và Xác tín về một sự hướng đích theo nghĩa tốt đẹp hơn, tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn (bởi niềm tin vào tiến hóa luận) của các quá trình ấy. Thành tựu nổi bật đầu tiên của Trần Đình Hượu thể hiện ra trước hết trong các công trình nghiên cứu lịch sử tư tưởng, lịch sử triết học phương Đông nói chung, nghiên cứu về Nho giáo nói riêng. Xuất phát từ nhu cầu "nhìn vào thực tế một cách lịch sử, hoàn chỉnh, rõ nét", phải ý thức về nội dung, vị trí và chức năng của Nho giáo trong những lĩnh vực, những bình diện khác nhau, ông nhận thấy việc nó tồn tại và phát huy tác dụng trong những điều kiện cụ thể - lịch sử của xã hội Đông Á đã khiến nó gây ra những tác động toàn diện theo những cách thức hoàn toàn đặc thù. Xem xét Nho giáo trong trạng thái độc lập tương đối với thực tiễn chính trị của mô hình nhà nước chuyên chế, không đồng nhất hóa một cách dễ dãi nhà nước chuyên chế "Đông phương" với mô hình cấu trúc và lịch sử của chế độ phong kiến nói chung, nỗ lực để biện biệt những nét đặc trưng của Nho giáo qua các thời kỳ lịch sử nhưng lại cũng cố gắng tìm ra và giải thích lý do sự tồn tại của những yếu tố "bất biến", điều khiến cho "sự vật vẫn là chính nó mà không phải là cái khác" - những gì khiến Nho giáo vẫn cứ là Nho giáo cho dù trong toàn bộ lịch sử lâu dài và phức tạp của mình nó đã phải tham dự vào quá nhiều những "lễ hội hóa trang dài ngày" với sự góp mặt của những học thuyết khác, những truyền thống khác, những học thuyết và truyền thống cũng vốn có nội dung vô cùng phong phú, sâu sắc và phức tạp, mà chỉ cần nêu điển hình là Phật giáo, Pháp gia và học thuyết Lão Trang - đó có thể coi là những đóng góp, những thành tựu nghiên cứu mang tính lý thuyết nổi bật đầu tiên mà Trần Đình Hượu mang lại cho nền học thuật nước nhà.

Chưa kịp thực hiện một công trình có hệ thống về lịch sử và cấu trúc học thuyết Nho giáo, đó là một trong những điều áy náy lớn mà Trần Đình Hượu bộc lộ những năm cuối đời. Dù sao, với những gì đã làm, (như ông diễn đạt, là "cắm một số tiêu vè", "nêu ra và phân tích một số hiện tượng, gắng nhìn từ nhiều phía để hình dung Nho giáo như nó tồn tại thực, nêu ra một số nhận xét, một số nghi vấn", đồng thời giải mã cái "gốc tích Nho giáo" của nhiều hiện tượng trên nhiều bình diện khác nhau của xã hội Việt Nam, xã hội Đông Á thời cận hiện đại), ông càng ngày càng được các thức giả cả trong lẫn ngoài nước ghi nhận là chuyên gia hàng đầu ở Việt Nam về đối tượng nghiên cứu phức tạp này. Càng ngày càng nhiều hơn những độc giả - nhà khoa học tự coi mình là học trò tự nguyện theo đường hướng nghiên cứu của ông. Một số nhà khoa học ở nước ngoài đã nói đến "trường phái Trần Đình Hượu" khi tiếp xúc với các công trình của ông và học trò các thế hệ do ông trực tiếp đào tạo hay chịu ảnh hưởng của ông. Việc có được một sự ghi nhận trong đời sống khoa học như vậy là điều hoàn toàn không dễ dàng.

Là nhà nghiên cứu triết học và lịch sử tư tưởng, tự đòi hỏi và xác lập cho mình thói quen tư duy mang tính lý thuyết liên tục, nhưng những kết quả cụ thể thể hiện trong các công trình, các bài viết chủ yếu của ông cũng thấm đẫm tinh thần phục vụ thực tiễn. Tuy nhiên, tính thực tiễn đó không thể được hiểu là sự bình tán dễ dãi hay sự minh họa, phụ họa cho những kết luận nào đó có sẵn, mà là những nỗ lực liên tục của lao động trí tuệ đặng tìm tới những kiến giải vì thực tế, mở đường cho việc nhận thức và chỉ đạo thực tế có hiệu quả hơn. Điều tôi vừa nói sẽ được chứng thực dễ dàng khi nhìn vào tên các công trình lớn nhỏ của ông: "Nho giáo và Nho học ở Việt Nam, vài vấn đề về đặc điểm và vai trò của nó trước thực tế phát triển thời cận - hiện đại"; "Con người Việt Nam với truyền thống văn hóa Nho giáo hóa"; "Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc"; "Thử suy nghĩ theo hướng khác: đi con đường thích hợp với thực tế phương Đông lên chủ nghĩa xã hội"; "Vài điểm xuất phát cho công cuộc mở rộng dân chủ trong xã hội ta"; "Làng - họ: những vấn đề của quá khứ và hiện tại"... Ông không bao giờ chấp nhận lối "làm khoa học" bằng cung cách xào xáo, thuyết minh cho những ý tưởng có sẵn nếu những ý tưởng đó không còn những miền "tối", càng không bao giờ chịu "đón" ý tưởng của bất cứ ai, kể cả những thứ có tầm "thiên kiến của thời đại". Tính chất độc lập cao độ trong tư duy cá nhân khiến "tính thực tiễn" trong các công trình nghiên cứu của ông rất thường xuyên lại là những nhận định, những l lup luận, những giả thiết dễ va chạm, xung đột với "lẽ phải thông thường", và vì chính điều đó, ông thường rơi vào tình thế đơn độc trong suy nghĩ, trong các xác tín cụ thể. Đơn độc, nhưng không nhượng bộ, kiên quyết về lập trường nhưng lại cũng kiên nhẫn chờ đợi, tự tín tự trọng nhưng không bao giờ tranh thắng, ông nhận được sự kính trọng sâu sắc của đồng nghiệp, của học trò, của cả những người vào những thời điểm nào đó đã từng là "phản biện gia hăng hái" của chính ông.

Cùng với một số học giả, nhà khoa học khác, khi nghiên cứu Nho giáo và văn hóa truyền thống Việt Nam, Trần Đình Hượu có được một ưu thế, nhất là khi so với các nhà khoa học lớp hậu sinh hay các học giả phương Tây, là ưu thế nghiệm sinh, nghĩa là các suy nghĩ và luận giải về Nho giáo, nhà nho và thực tế nền văn hóa, văn học truyền thống không chỉ là kết quả của một quá trình nghiên cứu chủ yếu mang tính chất hàn lâm, nghĩa là từ tài liệu sách vở, mà cả từ sự suy ngẫm và tổng kết, khái quát lên từ vốn sống, từ sự quan sát thực tế. Rất nhiều những nhận định, nhận xét khái quát, hệ thống hóa đã đến với các học giả từ con đường nghiệm sinh, cũng tức là chứng nhân, như thế. Là nhà khoa học cùng thế hệ và có nhiều nét tiểu sử tương đồng, trong một bài viết của mình về Trần Đình Hượu, (Báo Văn nghệ, tháng 3.1995) Phan Ngọc đã nêu lên và nhấn mạnh ưu thế này. Ngoài Nho giáo, Trần Đình Hượu đã dành không ít thời gian và tâm huyết cho việc tìm hiểu các học thuyết khác có mặt trong khu vực Đông Á truyền thống. Trước hết, đó là sự đào sâu để nắm bắt thực chất và những biểu hiện đa chiều của học thuyết Lão - Trang. Không chỉ sống cho riêng mình, ông cũng đã biên soạn một chuyên đề công phu về học thuyết cực khó nhưng cũng đặc biệt hấp dẫn, ảnh hưởng lâu dài và nhiều mặt đối với sự phát triển của đời sống tinh thần ở xã hội Đông Á truyền thống, đặc biệt là trong giới trí thức cao cấp ấy để "truyền" nó lại cho hậu sinh. Trong các tông phái Phật giáo, Trần Đình Hượu đặc biệt bị hấp dẫn bởi Thiền tông, đã có những bài viết về tông phái đó. Biển học vốn vô bờ, những người bị / được số phận trước bạ thành nhà triết học thực thụ càng cảm thấy cái biển học ấy mênh mông thêm nữa.

Tôi muốn nói thêm đôi điều về phương pháp suy nghĩ và rộng hơn, phong cách khoa học của Trần Đình Hượu. Ngót 20 năm gần gũi với ông và có lẽ suốt đời vẫn lưu giữ những ảnh hưởng của ông, tôi có rất nhiều những điều có thể nói, có thể kể về ông như một tấm gương làm người, làm thầy và tấm gương nhà khoa học. Nhưng trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ muốn đề cập tới những gì tôi coi là đặc sắc nhất mà ông từng thực hành và yêu cầu những người là học trò ông cố gắng tuân thủ. Ai cũng biết, để có thể trở thành nhà khoa học đích thực, nhất là trong các khoa học xã hội - nhân văn, sự uyên bác gần như là một tiên đề. Trần Đình Hượu là người làm việc với ý chí lớn, niềm đam mê lớn. Ông là người đọc nhiều, đọc sâu, hiểu và biết trên một quy mô rất rộng, nhưng ông lại rất ngại ngần khi viết buộc phải trích dẫn. Trần Đình Hượu rất ít khi công khai bày tỏ thái độ đối với những kiểu người mà ông xa lạ với họ. Giữa rất nhiều khó khăn đến từ bối cảnh chung lẫn hoàn cảnh cá nhân, phải chịu đựng chúng vừa cay cực, vừa pha chút khinh bạc, Trần Đình Hượu vẫn nỗ lực để lưu lại cho hậu thế những chứng tích của một người tư duy, một đời tư duy.

Tôi tin rằng, nhiều những người khác, những thế hệ khác nữa sẽ còn tìm được những điều sở đắc trong các công trình c ôa ông. Kết thúc những trang viết này, bên tai tôi như còn vang lên lời dặn dò ân cần của ông "Viết gì thì viết, chỉ đừng viết những điều mà về sau phải mất công sức nhiều để đính chính". Thoạt nghe thì dễ, ngẫm cho kỹ mới thấy, thực thi được điều ấy, khó làm sao!

Trần Ngọc Vương [100 Years-VietNam National University,HaNoi
..." Dẫu ngày xưa có thể khác bây giờ
Nhưng Chất Nghệ anh tin là vẫn chảy
Trong huyết quản mỗi người quê anh đấy
Sống nơi nào cũng muối mặn gừng cay"...
quanvoliet
#11 Đã Gửi : 26/05/2007 lúc 11:50:04

Tâm huyết

Nhóm: Quản trị

Gia nhập: 27-01-2007
Bài viết: 2.422
Điểm: 4.332
Đến từ: Nhút Thanh chương
Yêu thích: 473
Được cảm ơn 950 lần trong 473 bài.
################
..." Dẫu ngày xưa có thể khác bây giờ
Nhưng Chất Nghệ anh tin là vẫn chảy
Trong huyết quản mỗi người quê anh đấy
Sống nơi nào cũng muối mặn gừng cay"...
xunghe_forever
#12 Đã Gửi : 25/07/2007 lúc 09:13:50

Quản trị


Nhóm: Điều hành, Quản trị

Gia nhập: 27-05-2007
Bài viết: 351
Điểm: 1.122
Đến từ: Hương Sơn - Hà Tĩnh
Yêu thích: 125
Được cảm ơn 183 lần trong 76 bài.
 

TÓM TẮT TIỂU SỬ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình trí thức yêu nước, nguồn gốc nông dân ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị nặng nề của thực dân phong kiến. Hoàn cảnh xã hội và giáo dục gia đình đã ảnh hưởn sâu sắc đến Hồ Chủ tịch ngay từ thời niên thiếu.

Với tinh thần yêu nước nồng nàn, với sự sáng suốt về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước hồi bấy giờ và quyết tâm đi tìm con đường đúng đắn để cứu dân, cứu nước.

Tháng 6/1911, Người ra nước ngoài, đi đến nước Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Người hòa mình với những côngnhân và những người dân thuộc địa, vừa lao động để sống, vừa học tập, nghiên cứu các học thuyết cách mạng. Năm 1917, thắng lợi vang dội của cách mạng tháng Mười Nga đã đưa Hồ Chủ tịch đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Ra sức nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã nhận rõ đường lối duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội.

Cùng năm ấy, Người thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước để tập hợp Việt Kiều ở Pháp. Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội pháp và hoạt động trong phong trào công nhân Pháp. Đầu năm đó, Người gửi đến Hội nghị Véc-xây (Pháp) "Bản yêusách của nhân dân Việt Nam", đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do và bình đẳng của dân tộc Việt Nam. .

Tháng 12/1920, trong Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện trên đây đánh dấu bước ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Người, bước ngoa chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản

Năm 1921, Người tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa và năm 1922 xuất bản báo "Người cùng khổ" ở Pháp. Tháng 6/1923, Người từ Pháp đi Liên Xô, nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tham gia công tác của Quốc tế cộng sản. Cùng năm đó, Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân. Năm 1924, người dự Đại hội lần thứ 5 của Quốc tế cộng sản và được cử làm Ủy viên Bộ phương Đông, phụ trách Cục phương Nam, hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng và phong trào Cộng sản ở các nước Đông - Nam châu Á. Năm 1925, Người thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.

Tháng 6/1925, Người tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, mà hạt nhân là Cộng sản Đoàn, đồng thời ra báo Thanh niên và mở lớp huấn luyện đào tạo hàng trăm cán bộ đưa về nước hoạt động.

Ngày 3/2/1930, Người triệu tập hội nghị hợp nhất tại Cửu Long (Hương Cảng) để thống nhất các nhóm cộng sản trong nước thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong thời gian từ 1930 đến 1940, Người ở nước ngoài tham gia công tác của Quốc tế Cộng sản, đồng thời theo dõi sát phong trào cách mạng trong nước và có những chị thị quý báu cho Ban chấp hành Trung ương Đảng ta.

Năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài Người về nước triệu tâp hội nghị n thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối đánh Pháp, đuổi Nhật, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), gấp rút xây dựng lực lượng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Ngày 22/12/1944, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay và xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Tháng 8/1945, trong không khí sôi sục cách mạng của thời kỳ tiền khởi nghĩa, Người cùng Trung ương triệu tập đại hội quốc dân ở Tân Trào. Đại hội đã cử Người làm chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Người đã phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2/9/1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước nhân dân cả nước và nhân dân toàn thế giới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Trong những ngày đầu cách mạng, nước ta có nhiều khó khăn chồng chất và bị bao vây bốn phía. Nạn đói do phát xít Nhật - Pháp gây ra đã giết hại hơn hai triệu người Việt Nam. Tháng 9/1945 câu kết với các đế quốc Mỹ, Anh và bọn phản động Quốc dân Đảng Trung Quốc, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, âm mưu xóa bỏ mọi thành quả của Cách mạng tháng Tám.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân ra vừa đánh trả bọn thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, vừa đối phó với bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc.

Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 được ký kết giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp. Quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi miền Bắc Việt Nam. Quân đội Pháp mở rộng đánh chiếm miền Nam, kéo ra miền Bắc và lấn dần từng bước ở miền Bắc, âm mưu tieến tới xóa bỏ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước tình hình ấy, tháng 12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến và cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài chống thực dân Pháp đến thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ (1954).

Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Miền Bắc Việt Nam được giải phóng. Nhưng một nửa nước ở miền Nam bị đế quốc Mỹ biến thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Người cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

Tháng 9/1960, đại hội lần thứ ba của Đảng đã họp, thông qua nghị quyết về hai nhiệm vụ chiến lược và bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Người và của Ban chấp hành Trung ương đảng, nhân dân ta vừa đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc kháng chiếng chống Mỹ, cứu nước để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.

Bác Hồ với Thanh niên, thanh niên với Bác Hồ

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của mộtngười cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới.

Cuộc họp lần thứ 24, năm 1987 tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp quốc UNESCO ra nghị quyết về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh "Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn" (HỒ CHÍ MINH VIETNAMESE HERO OF NATIONAL LIBERATION AND GREAT MAN OF CULTURE) vào năm 1990

Ơi con sông ngàn Phố của tôi ơi
Chư em sinh khi mô thì tui đây nỏ biết
Những chuyện ngày xưa kể mần răng cho hết
Chỉ biết bây giừ xanh biếc những hàng cây


hanhphuckhitimthayem
#13 Đã Gửi : 22/11/2009 lúc 07:56:06

Tâm huyết

Nhóm: Tin tức

Gia nhập: 23-05-2007
Bài viết: 822
Điểm: 1.754
Đến từ: Anh Sơn
Yêu thích: 17
Được cảm ơn 77 lần trong 67 bài.

quanvoliet đã viết:

Xin giới thiệu " những người con xứ nghệ thành danh" trên mọi lĩnh vực, đó là niềm tự hào và lhá»những tấm gương sáng để cho tất cả chúng ta phấn đấu vươn lên trong mọi hoàn cảnh.
 
- Hồ Đức Việt: Tiến sĩ toán lý, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức trung ương, chủ nhiệm ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trưởng của Quốc hội : ông này nắm nhân sự cấp trung ương.
- Lê Doãn Hợp: Tiến sĩ, Bộ trưởng Bộ văn hóa- thông tin.
- Uông Chu Lưu: Bộ trưởng Bộ Tư pháp
- Đặng Quang Phương: Tiến sĩ luật, Phó Chánh án thường trực Tòa án nhân dân tối cao.
- Trần Ngọc Chính: Kiến trúc sư, thứ trưởng Bộ xây dựng.
- Trần Xuân Hà: Tiến sĩ, thứ trưởng Bộ Tài chính.
- Bành Tiến Long: Giáo sư, TSKH Chế tạo máy,Thứ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo
- Hoàng Ngọc Hà: Giáo sư, TSKH Trắc địa và xử lý ảnh, Vụ trưởng Vụ khoa học và công nghệ, Bộ giáo dục và đào tạo:
- Trần Thị Hà: phó giáo sư, tiến sĩ , Vụ trưởng Vụ Đại học và Sau đại học, Bộ giáo dục và đào tạo:
- Phạm Hùng- Tổng giám đốc Tập đoàn Lắp máy Việt nam Lilama.

Các giáo sư đầu ngành:
- Hà Huy Khoái: Giáo sư, TSKH toán học, Viện sĩ Viện hàm lâm khoa học các nước thế giới thứ 3, Viện trưởng Viện Toán học Việt nam.
- Bạch Hưng Khang: Giáo sư, TSKH nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ thông tin Việt nam.
- Nguyễn Thúc Hải: Giáo sư, tiến sĩ, nguyên chủ nhiệm Khoa Công nghệ thông tin- Đại học Bách khoa Hà nội
- Trần Xuân Hoài: Giáo sư, TSKH, Viện trưởng Viện Vật lý ứng dụng- Viện Khoa học Việt nam:
- Giáo sư, TSKH Đinh Dũng, Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin,- Đại học Quốc gia Hà nội:
- Nguyễn Đình Hương; Giáo sư, TSKH, nguyên hiệu trưởng trường Đại học kinh tế quốc dân, chủ tịch Hội khoa học kinh tể Việt nam.
- Hoàng Xuân Sính: Giáo sư, TSKH toán học, chủ tịch hội đồng quản trị trường Đại học Thăng Long
- Nguyễn Văn Trương: Giáo sư , TSKH, Viện trưởng Viện Kinh tế sinh thái,anh hùng lao động:
- Cao Tiến Hùynh: Giáo sư, TSKH, Viện trưởng Viện tự động hóa kỹ thuật quân sự, phó chủ tịch Hội tự động hóa Việt nam:
- Nguyễn Đức Cương: Giáo sư, TSKH, Viện phó Viện Tên lửa- Bộ Quốc phòng.
- Lê Mỹ Tú: Giáo sư, TSKH, Giám đốc Học viện Kỹ thuật mật mã
- Đinh Quang Báo: Giáo sư, TS sinh học, nguyên Hiệu trưởng trưởng Đại học sư phạm 1:
- Võ Quý: Giáo sư sinh học, Đại học Quốc gia Hà nội, giải thưởng Hành tinh xanh:
- Phạm Đức Dương: Giáo sư, TSKH, Viện trưởng Viện Đông nam á,
- Hà Văn Tấn: Giáo sư, Viện trưởng Viện Khảo cổ học, giải thưởng Hồ Chí Minh.
- Đặng Quốc Phú: Giáo sư, TSKH, Viện trưởng Viện kỹ thuật nhiệt lạnh, ĐH BK Hà nội:
- Hà Huy Khôi: Giáo sư, TSKH, Viện trưởng Viện Dinh Dưởng, Bộ y tế, giải thưởng nhà nước năm 2005:
- Hà Học Trạc: Giáo sư, tiến sĩ, nguyên Chủ tịch Hội liên hiệp KH và KT Việt nam, tổng biên tập Từ điển Bách khoa Việt nam:
- Đinh Xuân Lâm: Giáo sư sử học, Nhà giáo nhân dân, Đại học Quốc gia Hà nội:
- Trần Vĩnh Diệu: Giáo sư, TSKH, giám đốc TT vật liệu Polyme- Đại học Bách khoa, anh hùng lao động:
- Giáo sư Nguyễn Đức Bình: nguyên ủy viên Bộ chính trị, giám đốc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh:
- Nguyễn Huệ Chi: Giáo sư văn học,
- Phong Lê: Giáo sưu văn học , nguyên Viện trưởng Viện Văn học, giải thưởng nhà nước năm 2005
- Nguyễn Khắc Phi: Giáo sư văn học:
- Phan Đình Diệu : Giáo sư, TSKH, nguyên Viện trưởng Vỉện CNTT, ủy viên Đoàn chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt nam:
- Lê Tuấn Hoa: Giáo sư, TSKH, phó Viện trưởng Viện toán học Việt nam, phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký hội Toán học Việt nam.
- Nguyễn Hữu Công: Giáo sư, TSKH, chủ nhiệm khoa sau đại học - Đại học Quốc gia Hà nội:
- Giáo sư, Viện sĩ Vật lý Đào Vọng Đức.
- Giáo sư TSKH Cầu đường Hà Huy Cương, Học viện Kỹ thuật quân sự:
- Giáo sư, TSKH Phan Trường Phiệt: Đại học thủy lợi
- Giáo sư, Lê Xuân Tùng, nguyên Bí thư thành ủy Hà nội
- Giáo sư TSKH Nguyễn Văn Hợi, giám đốc TT kỹ thuật các công trình đặc biệt- Học viện Kỹ thuật quân sự:
- Giáo sư, nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến:
- Giáo sư sử học Chương Thâu
- Giáo sư Phan Hữu Dật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Giáo sư Phan Cự Đệ, Đại học Quốc gia Hà nội
- Giáo sư, Tiến sĩ cơ học Phan Nguyên Di: Học viện Kỹ thuật Quân sự
- Giáo sư, Tiến sĩ cơ học Hoàng Xuân Lượng: Học viện Kỹ thuật Quân sự

Ngoài ra còn có:
- Trần Bạch Thu Hà; Phó giáo sư, Tiến sĩ, Giám đốc Nhạc viện Hà Nội
- Nguyễn Cảnh Lương: Phó giáo sư, Tiến sĩ, phó hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà nội
- Nguyễn Thị Hòe: Phó giáo sư, Tiến , sĩ, chủ hãng sơn Kova:
- Phạm Thị Thành: Nghệ sĩ nhân dân, đạo diễn:
- An Thuyên: nhạc sĩ: hiệu trưởng trường đại học văn hóa- nghệ thuật quân đội,
- Nguyễn Trưởng Cửu: Phó giáo sư, Viện sĩ, phó Tổng giám đốc trung tâm nhiệt đới Việt Nga- Bộ Quốc phòng
- Dương Kỳ Anh: Nhà thơ, Tổng biên tập báo Tiền phong.
- Đinh Văn Nhã: Phó giáo sư, tiến sĩ, giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005
- Lê Hải Khôi: Phó Giáo sư, tiến sĩ, Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin Việt nam
                                           
    Sưu tầm/4/07 ( danh sách này tiếp tục được sưu tầm và cập nhật)

 

quanvoliet39181.4986458333

có ai biết thêm những người nghệ nào làm to ở trung ương nữa ko?


Sống hết mình

Chơi hết mình

Để rồi chết một mình
gerry_boy
#14 Đã Gửi : 11/12/2009 lúc 16:16:51

Siêu tích cực


Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 27-11-2009
Bài viết: 130
Điểm: 447
Đến từ: TP Vinh
Yêu thích: 10
Được cảm ơn 22 lần trong 14 bài.

em chịu

người xứ nghệ mình thật là anh hùng laughing

Winter Melon
#15 Đã Gửi : 29/12/2009 lúc 13:56:34

Siêu tích cực

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 28-12-2009
Bài viết: 177
Điểm: 534
Đến từ: Diễn Châu
Yêu thích: 35
Được cảm ơn 74 lần trong 44 bài.

Làm to ở trung ương thì cũng tầm tầm, tui có biết một vài người.  Cao Cự Tú, kỹ sư cơ khí tại Hunggairi, giám đốc trung tâm thông tin - Uỷ ban dân tộc

Em muốn nói với anh
Về Câu hát "Giận Thương" xứ Nghệ.
Người trong câu hát dịu dàng là thế.
Em ngoài đời còn đáng yêu hơn.
Winter Melon
#16 Đã Gửi : 29/12/2009 lúc 13:57:58

Siêu tích cực

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 28-12-2009
Bài viết: 177
Điểm: 534
Đến từ: Diễn Châu
Yêu thích: 35
Được cảm ơn 74 lần trong 44 bài.

Mà ko biết là tui có hoa mắt ko hay sao chứ chưa thấy tên của ông Trương Đình Tuyển hậy, nguyên bộ trưởng bộ thương mại

Em muốn nói với anh
Về Câu hát "Giận Thương" xứ Nghệ.
Người trong câu hát dịu dàng là thế.
Em ngoài đời còn đáng yêu hơn.
toi yeu xu nghe
#17 Đã Gửi : 29/12/2009 lúc 22:57:55

Lính mới
Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 26-12-2009
Bài viết: 22
Điểm: 69
Đến từ: đô lương
Yêu thích: 12
Được cảm ơn 3 lần trong 2 bài.

Nguyễn Sinh Hùng không phải người Nghệ hay sao? phó thủ tướng mà

tôi xa quê nhớ dòng sữa mẹ
toi yeu xu nghe
#18 Đã Gửi : 29/12/2009 lúc 22:59:34

Lính mới
Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 26-12-2009
Bài viết: 22
Điểm: 69
Đến từ: đô lương
Yêu thích: 12
Được cảm ơn 3 lần trong 2 bài.

em nghe nói năm 2010 Bác Hồ ĐứcViệt mình được năm trong danh sách bầu cử của tồng bí thư đấy

tôi xa quê nhớ dòng sữa mẹ
toan_slna
#19 Đã Gửi : 02/01/2010 lúc 13:23:15

Lính mới

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 02-01-2010
Bài viết: 9
Điểm: 36
Đến từ: Hà Nội
Yêu thích: 6
Được cảm ơn 0 lần trong 0 bài.

Trương Đình Tuyển-Bộ trưởng Bộ Thương Mại

Hồ Xuân Hùng-Thứ Trưởng Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn

toan_slna
#20 Đã Gửi : 03/01/2010 lúc 13:52:24

Lính mới

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 02-01-2010
Bài viết: 9
Điểm: 36
Đến từ: Hà Nội
Yêu thích: 6
Được cảm ơn 0 lần trong 0 bài.

Tạ Quang Bửu-nguyên bộ trưởng Bộ Quốc Phòng,hiệu trưởng ĐH Bách Khoa HN

Tạ Quang Ngọc-Bộ Trưởng Bộ Thủy Sản

Coi thử O/Chú đang mô đang lượn lờ cùng mềnh trong thớt ni
Guest
2 Trang 12>
Di chuyển  
Bác không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bác không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
Bác không thể xóa bài của Bác trong diễn đàn này.
Bác không thể sửa bài của Bác trong diễn đàn này.
Bác không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
Bác không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.

@DatNghe Theme by HaDttT & XuNghe_Forever (webdatnghe@yahoo.com)
Bản quyền bởi YAF 1.9.301 | YAF © 2003-2009, Yet Another Forum.NET
Thời gian xử lý trang này hết 1,647 giây.