Chào đồng hương, răng O/Chú nỏ đăng ký luôn đi, miễn phí mà. Bài hát Xứ Nghệ | Tìm kiếm | Bài mới | Đăng nhập | Đăng Ký

3 Trang 123>
Quỳnh Lưu: Tiềm năng & Đầu tư phát triển Chủ đề trước · Chủ đề kế tiếp · Tùy chọn · Coi
hoanganhvan
#1 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:07:27

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.
Quỳnh Lưu: Tiềm năng & Đầu tư phát triển

Trong số 9 huyện đồng bằng, thành thị của Nghệ An. Quỳnh Lưu là huyện có diện tích đứng hàng đầu với 60.706 ha. Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 26,7% (16.248 ha), đất lâm nghiệp chiếm 16% (9.739 ha), vùng ngập mặn chiếm 4,65% (2.823 ha), còn lại là đất ở và đất chưa sử dụng. Đây là những tiền đề quan trọng để Quỳnh Lưu phát triển kinh tế lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và cây công nghiệp.
Cũng trên dải đất này, Quỳnh Lưu còn sở hữu 34 km bờ biển ( là huyện có đường biển dài nhất Nghệ An, bằng 40% chiều dài toàn tỉnh) với 3 cửa sông đổ ra biển là cửa Quèn, cửa Cờn và cửa Thơi. Vùng biển Quỳnh Lưu có nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao như cá, tôm, mực, nhuyễn thể. Biển cũng mang lại cho Quỳnh Lưu những bãi tăm đẹp có sức hấp dẫn du khách gần xa như Quỳnh Lập, Quỳnh Phương, Quỳnh Liên, Quỳnh Bảng, Quỳnh Nghĩa. Sự kết hợp giữa các bãi tắm với hàng chục di tích văn hóa-lịch sử được xếp hạng trong toàn huyện đang dần hình thành nên những khu du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và nghỉ dưỡng, mở ra hướng đi đầy triển vọng cho phát triển kinh tế du lịch trong tương lai không xa. Không chỉ có vậy, các cửa biển cùng hệ thống sông ngòi, kênh đào trên địa bàn như sông Thai, sông Hoàng Mai, kên nhà Lê,..còn đóng vai trò lớn trong cấu tạo địa hình, đồng thời tác động đến sự phát triển kinh tế-xã hội của huyện khi tạo ra thế gắn bó, giao lưu giữa vùng đồng bằng, bán sơn địa với vùng biển và tạo thêm nguồn lợi thủy sản phong phú ven biển.
Phía tây và phía bắc Quỳnh Lưu là vùng đồi núi, nơi cung cấp nhiều mỏ khoáng sản trữ lượng lớn, chất lượng cao, gồm các loại đá vôi, sét xi măng, cao lanh…Đáng chú ý trong đó có mỏ đá Hoàng Mai rộng 490 ha, trữ lượng 500 triệu m3; mỏ sét Quỳnh Vinh 17 triệu tấn và sét xi măng 61 triệu tấn. Khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản này sẽ là “chìa khóa” để Quỳnh Lưu đưa ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trở thành ngành kinh tế trọng điểm của huyện.
Nếu thiên nhiên ưu đãi cho đất Quỳnh Lưu có đủ cả rừng vàng, biển bạc và đồng bằng phì nhiêu để phát triển kinh tế nông-lâm-ngư nghiệp đa dạng theo hướng sản xuất hàng hóa, thì lịch sử và khí thiêng sông núi lai ban cho mảnh đất này những con người có truyền thống cần cù, hiếu học, dũng cảm, năng động, sáng tạo trong chiến đấu và lao động sản xuất.
Nằm ở thế “Nam Thanh-Bắc Nghệ” bàn đạp vào Nam, ra Bắc, lên miền Tây, xuống biển Đông, nơi hội tụ nhiều tuyến giao thông chiến lược như quốc lộ 1A, quốc lộ 48, đường sắt Bắc-Nam, đường biển…chạy qua, nguồn nhân lực dồi dào, trình độ dân trí khá cao, Quỳnh Lưu hội tụ được nhiều yếu tố thuận lợi để bứt phá đi lên trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Phát huy những tiềm năng và lợi thế sẵn có, cùng với các cơ chế, chính sách thông thoáng, Quỳnh Lưu đã tập trung khai thác nội lực, thu hút ngoại lực để tạo nên dấu ấn. Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,7% (riêng phần huyện 15,1%); cơ cấu chuyển dịch tích cực, tỷ trọng nông nghiệp từ 39,71% (2006) giảm xuống 35,08%, công nghiệp – xây dựng tăng từ 40,34% lên 41,5%, dịch vụ-thương mại tăng từ 19,95% lên 23,42%; thu nhập bình quân đầu người đạt 8,01 triệu đồng, tăng 8,3%.
Để khuyến khích đầu tư phát triển, huyện Quỳnh Lưu đã quy hoạch mô hình kinh tế theo đặc của từng vùng. Vùng trung du-bán sơn địa, tập trung chế biến nông sản, lâm sản và khai thác vât liệu xây dựng. Vùng ven biển, chế biến thủy sản, cơ khí, đóng tàu và du lịch. Vùng thị trấn, thị tứ nông giang, tập trung sản xuất lương thực, mây tre đan và dành một phần lớn diện tích để phát triển các khu-cụm tiểu thủ công nghiệp tập trung ven quốc lộ 1A. Vùng Hoàng Mai, khai thác lợi thế khu công nghiệp Nam Thanh-Bắc Nghệ. Huyện đã công bố quy hoạch chi tiết 2 khu công nghiệp nhỏ Quỳnh Hồng, Quỳnh Giang và được UBND Tỉnh công nhận 9 làng nghề, đứng thứ 2 toàn tỉnh.
Đến nay, Quỳnh Lưu có 240 doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng nhiều thành phần kinh tế khác đã nỗ lực vươn lên, góp phần lớn cho sự phát triển kinh tế của địa phương.
Việc khôi phục, phát triển cac ngành nghề truyền thống và du nhập nhiều nghề mới, vừa giải quyết phần lớn công ăn việc làm, vừa tăng thu nhập cho nhân dân. Bên cạnh đó, một số công nghệ mới cũng được áp dựng vào sản xuất, tạo ra hoàng hóa phong phú đa dạng, một số mặt hàng đã được xuất ra thị trường ngoài huyện, ngoài tỉnh và còn xuất khẩu.

(sưu tầm)
Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn "Kết Nối Ân Tình Xứ Nghệ". Với mục tiêu xây dựng một sân chơi bổ ích, giao lưu kết nối cộng đồng mạng phát triển, vững mạnh - chúng tôi luôn trân trọng mọi đóng góp, bài viết của tất cả các thành viên. Chúc bạn có những thông tin bổ ích, giây phút thoải mái với diễn đàn.

hoanganhvan
#2 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:08:35

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.
Huyện Quỳnh Lưu:
Tạo thế và lực cho phát triển kinh tế-xã hội


Quỳnh Lưu là huyện địa đầu của xứ Nghệ, phía bắc giáp huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), phía nam và tây nam giáp huyện Diễn Châu và Yên Thành, phía tây giáp huyện Nghĩa Đàn, phía đông giáp với biển Đông. Huyện lỵ là Thị trấn Cầu Giát, cách thành phố Vinh 60 km. Diện tích đất tự nhiên 60.706 ha, trong đó đất dùng vào nông nghiệp 15.427,64 ha. Dân số 37 vạn người.
Đơn vị hành chính gồm 41 xã và 2 thị trấn, trong đó 8 xã thuộc miền núi. Về giao thông, ngoài quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam đi qua với điểm “dừng chân” là ga Hoàng Mai, ga Cầu Giát và mạng lưới quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ, đường sông phủ khắp toàn huyện…, Quỳnh Lưu còn có tuyến đường sắt địa phương nối từ ga Giát qua ga Tuần lên huyện Nghĩa Đàn. Đây là một trong số rất ít cac tuyến đường sắt Quốc gia với vùng đất đỏ Phủ Quỳ.
Với nhiều lợi thế trong khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản, Quỳnh Lưu đang là một trong 3 trọng điểm lớn về phát triển kinh tế của tỉnh Nghệ An (Vinh, Quỳnh Lưu, Phủ Quỳ). Với nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và dồi dào như đá vôi, đất sét, cao lanh…, Quỳnh Lưu có rất nhiều tiềm năng để phát triển ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; trên địa bàn Huyện có 7 điểm đá vôi đã được thăm dò khai thác với diện tích hàng trăm ha và trữ lượng hàng trăm triệu tấn, có quy mô tập trung. Quỳnh Lưu có mỏ sét Hoàng Mai với trữ lượng hơn 60 triệu tấn đã được Việt Nam và Rumani thăm dò, phân tích, cho thấy nguồn tài nguyên quý giá này làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng rất tốt. Mỏ sét Quỳnh Vinh có trữ lượng 17 triệu tấn, ở gần vị trí xây dựng Nhà máy Xi măng Hoàng Mai, đã được đầu tư thăm dò, khai thác phục vụ cho các nhà máy xi măng Nghi Sơn và Hoàng Mai. Đất cao lanh làm gạch ngói tập trung ở các xã Quỳnh Mỹ, Quỳnh Lâm, Quỳnh Văn đủ cung cấp cho các lò công suất 7-20 triệu viên/ năm trong thời gian 20-30 năm tới. Ngoài ra, đất tốt làm gốm sứ, đá opps lát, chì, kẽm, than đá..là những nguồn tài nguyên thiên nhiên hứa hẹn sự phát triển nhanh chóng cho ngành kinh tế nói chung, công nghiệp Quỳnh Lưu nói riêng.
Mặc dù những năm gần đây, thời tiết bất thường, dịch bệnh phức tạp, giá cả biến động.. gây bất lợi cho sản xuất của nhân dân nhưng với tinh thần đoàn kết, sự nỗ lực cố gắng của Đảng bộ và nhân dân toàn huyện, Quỳnh Lưu liên tục đạt được kết quả cao trên nhiều lĩnh vực.
Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,7% (riêng phần huyện 15/1%), cơ cấu chuyển dịch tích cực, tỷ trọng nông nghiệp từ 39,71% (2006) giảm xuống 35,08%, công nghiệp-xây dựng tăng từ 40,34% lên 41,5%, dịch vụ -thương mại tăng từ 19,95% lên 23,42%; thu nhập bình quân đầu người đạt 8,01 triệu đồng, tăng 8,3%. Sản lượng lương thực đạt 114.198 tấn, bình quân giá trị sản xuất đạt 37,664 triệu đồng/ha canh tác, hiện có 36 mô hình với tổng diện tích 2.275 ha có giá trị sản xuất từ 50 triệu đồng/ha trở lên, tăng 1.040 ha. Chăn nuôi tiếp tục phát triển theo hướng trang trại, tập trung, xa khu dân cư. Tỏng sản lượng thủy sản đánh bắt, nuôi trồng 28.913 tấn, tăng 20% (trong đó, sản lượng hải sản đạt tiêu chuẩn xuất khẩu chiếm 40%). Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp đạt mức tăng trưởng khá, nhieuf ngành nghề được phát triển, mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, có thêm 3 làng nghề được công nhận, đưa tổng số lên 9 làng nghề; đã công bố quy hoạch chi tiết và tích cực kêu gọi đầu tư vào các khu công nghiệp nhỏ Quỳnh Giang, Quỳnh Hồng và đô thị Hoàng Mai. Xây dựng kết cấu hạ tầng được tăng cường hơn, tổng giá trị đầu tư trên địa bàn 891,325 tỷ đồng, tăng 21,8% (trong đó, ngân sách xã và nhân dân đóng góp chiếm 60%). Thương mại –dịch vụ phát triển khá sôi động, đáp ứng cơ bản nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của nhân dân; tăng cường cac hoạt động xúc tiến thương mại, hôi chợ nhằm mở rộng thị trường, quảng bá sản phẩm. Thu ngân sách Nhà nước giao trên địa bàn đạt 57,02 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay.
Năm 2008, Quỳnh Lưu xác định mục tiêu là tích cực thu hút đầu tư, khơi dậy các nguồn lực tại chỗ, đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động với tốc độ cao theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hôi nhập kinh tế quốc tế; giải quyết tốt các vấn đề xã hội; đảm bảo quốc phòng an ninh; xây dựng hệ thống chính trị, thực hiện thắng lợi chỉ tiêu Nghị quyết Đại hôi Đảng bộ huyện lần thứ XXV.
Để đạt được mục tiêu đó, huyện Quỳnh Lưu tập trung chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị, hiệu quả thu nhập trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Đẩy mạnh phát triển TTCN, nâng cao chất lượng các làng nghề. Quản lý tốt các quy hoạch đã được phê duyệt, đẩy nhanh tiến độ thực hiện đề án mở rộng thị trấn Cầu Giát, hoàn thành xây dựng quy hoạch thị tứ ở các vùng. Tích cực thu hút đầu tư, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp Quỳnh Giang, Quỳnh Hồng; khu du lịch biển Quỳnh và khu công nghiệp Hoàng Mai, các trung tâm thương mại của huyện; khuyến khích và tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp quốc doanh, xây dựng thương hiệu hàng hóa.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải tiến, đổi mới phương pháp chỉ đạo nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền huyện, xã. Sát nhập, kiện toàn các phòng ban và cơ quan chuyên môn UBND huyện theo chủ trương của UBND tỉnh, Chính phủ. Hoàn thành việc bố trí, sử dụng cán bộ chuyên trách cấp xã có trình đọ chuyên môn từ trung cấp trở lên. Tăng cường kiểm tra, thanh tra công vụ. Thực hiện tinh thần biên chế theo NĐ 132/NĐ-CP.
Phương thức lãnh đạo, chỉ đạo theo tinh thần NQ TW5(khóa X) cũng đươc đổi mới. Các tổ công tác được thành lập để chỉ đạo các đơn vị yếu kém. Phong trào thi đua sản xuất kinh doanh, thừa hành công vụ được đẩy mạnh rộng khắp trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thông qua tổng kết để nhân rộng mô hình tiên tiến, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ cho từng năm.
Năm 2008 là năm có vị trí quyết định trong việc hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2006-2010. Cán bộ, đảng viên và nhân dân Quỳnh Lưu sẽ nêu cao tinh thần trách nhiệm và đồng thuận, phấn đấu đạt kết quả cao nhất làm chuyển biến mạnh mẽ hơn trên các lĩnh vực, tạo thế và lực cho bước đi của huyện trong những năm tiếp theo.

(Sưu tầm)
Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#3 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:10:55

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Quá trình hình thành huyện Quỳnh Lưu

Quỳnh Lưu là một vùng đất cổ có cư dân sinh sống từ rất lâu đời. Bằng chứng là di chỉ văn hoá Quỳnh Văn. Ngoài Quỳnh Văn, các di chỉ cồn sò, điệp thuộc loại hình văn hoá Quỳnh Văn còn có ở các xã Quỳnh Hoa, Quỳnh Hậu, Quỳnh Xuân, Quỳnh Bảng, Quỳnh Lương, Quỳnh Minh, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Hồng, Mai Hùng,…

Niên đại văn hoá Quỳnh Văn được xác định là ít nhất ở thời kỳ đồ đá, tức là cách ngày nay khoảng 6000 năm. Cư dân nguyên thuỷ ở Quỳnh Lưu sinh sống thành từng bộ lạc ở vùng lõm, đồng lầy dọc bờ biển. Chính bằng lao động của mình, những chủ nhân cổ xưa trên mảnh đất Quỳnh Lưu đã “khai thiên phá thạch”, vật lộn với thiên nhiên, t ạo nên một kỳ tích hình thành vùng đất và hình thành cộng dân cư thời xa xưa.
Tên Quỳnh Lưu xuất hiện vào thế kỷ XV thời Nhà Lê (1430) ở cương vực từ biển Đông lên tận Quỳ Châu gồm 7 tổng phía trên (thuộc đất huyện Nghĩa Đàn hiện nay) và 4 tổng phía dưới (thuộc đất huyện Quỳnh Lưu ngày nay).
Từ năm 1430 trở về trước, cương vực Quỳnh Lưu hiện nay thuộc đất Hàm Hoan (tên của vùng Nghệ Tĩnh từ thế kỷ I đến thế kỷ III). Từ cuối thể ký III đầu thế kỷ IV, Hàm Hoan đổi tên thành Đức Châu. Đến giữa thế kỷ VII (năm 650) thời Bắc thuộc, Nghệ Tĩnh hiện nay được gọi là Hoan Châu, rồi đến nửa cuối thể kỷ VIII (năm 764), Hoan Châu tách ra thành Hoan Châu và Diễn Châu. Diễn Châu lúc bấy giờ bao gồm các huyện ngày nay của Nghệ An như Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong.
Thời nhà Lý, Diễn Châu là một châu, sau đổi thành một lộ và say nữa đổi thành phủ, tức là một đơn vị hành chính thuộc chính quyền trung ương từ năm 1010 đến 1225, Quỳnh Lưu lúc bấy giờ nằm trong châu, lộ hoặc phủ Diễn Châu.
Đến thời Trần, vùng Hoan Châu và Diễn Châu được đổi tên là trại, sau là lộ, phủ; năm 1397, Diễn Châu được gọi là trấn với tên là Vọng Giang.
Thời nhà Hồ, trấn Vọng Giang được đổi thành phủ Linh Nguyên (nghĩa là đất linh thiêng) gồm đất Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu và Nghĩa Đàn ngày nay.
Đến thời Lê, Diễn Châu chỉ là một phủ của Nghệ An. Phủ Diễn Châu thời kỳ này bao gồm hai huyện Đông Thành và Quỳnh Lưu. Như vậy, tên “Quỳnh Lưu” lần đầu tiên xuất hiện ở thời nhà Lê với niên đại được xác định là năm 1430.
Từ mốc thời gian thành lập huyện Quỳnh Lưu trở đi tức là đến thời nhà Nguyễn, năm Minh Mệnh thừ 12 (1831), cả nước chia thành 29 tỉnh, trong đó tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh được lập riêng. Quỳnh Lưu là đơn vị hành chính thuộc phủ Diễn Châu của tỉnh Nghệ An gồm 11 tổng. Từ năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), 7 tổng ở vùng trên được tách thành huyện Nghĩa Đường (sau đổi tên thành Nghĩa Đàn), 4 tổng còn lại (Quỳnh Lâm, Hoàng Mai, Hoàn Hậu, Thanh Viên) là huyện Quỳnh Lưu như hiện nay thuộc phủ Diễn Châu.
Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta, năm 1919, chính quyền thực dân phong kiến bỏ cấp phủ, Quỳnh Lưu trở thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh không còn là cấp dưới thuộc Diễn Châu nữa.
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ công hoà ra đời (2/9/1945), địa giới huyện Quỳnh Lưu cho đến nay về cơ bản không có gì thay đổi lớn. Tuy nhiên một số làng phía bắc huyện Diễn Châu và huyện Yên Thành được sáp nhập vào huyện Quỳnh Lưu. Từ đó đến nay, một số tên xã cũng được thay đổi. Theo đà phát triển của kinh tế - xã hội, các đơn vị hành chính cấp xã trong huyện Quỳnh Lưu có thể còn thay đổi theo hướng lập ra những đơn vị mới trên cơ sở tách ra từ những đơn vị cũ.


(Sưu tầm)

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#4 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:12:56

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Nguồn gốc lịch sử cư dân Quỳnh Lưu

Cư dân ở Quỳnh Lưu


Thời nguyên thuỷ cách chúng ta 5-6000 năm đã có cư dân trên đất Quỳnh Lưu. Họ sống trên các đồi điệp, đã để lại một nền văn hoá mà các nhà khảo cổ học, sử học gọi là “Văn hoá Quỳnh Văn”.

Người nguyên thuỷ sống ở Quỳnh Lưu từ văn hoá Quỳnh Văn (sơ kỳ đồ đá mới) đến văn hoá Đông Sơn (đồ đồng) ở Đồi Đền (Quỳnh Hậu).
Vùng ven biển do có các dòng hải lưu xuôi ngược, do có hiện tượng sóng nhào, gió, sự bồi tụ của các loại nhuyễn thể nói chung là trầm tích biển, cát, phù sa,… nên hình thành các dải cồn cát nên cư dân đến cư trú sớm hơn vùng đồng bằng. Ví dụ như ở Tiến Thuỷ, ở Quỳnh Lương, Quỳnh Lộc, Quỳnh Lập,…
Suốt thiên niên kỷ thứ nhất đến đầu thiên niên kỷ thứ hai, cư dân trên địa bàn Quỳnh Lưu đã lan dần từ vùng bán sơn địa phía tây và phía tây bắc xuống các cồn gò, các rệ đất ven núi, ven đồi. Nước biển lùi đến đâu, họ đắp đập ngăn mặn đến đó, lập trang trại đến đó
Suốt cả đời Lý và đời Trần là thời gian mà tiền nhân của cư dân Quỳnh Lưu hiện tại đã chế ngự thiên nhiên, tích cực kinh dinh đất Quỳnh Lưu ở vùng giữa và vùng hạ huyện. Đây là thời gian không chỉ Quỳnh Đôi ra đời mà Quỳnh Yên, An Hoà, Quỳnh Hồng, Quỳnh Bảng, Quỳnh Giang, Quỳnh Diễn, Quỳnh Châu, Quỳnh Thạch, Quỳnh Mỹ, Sơn Hải, Quỳnh Hưng, Quỳnh Bá,.. đều có người cư trú. Như vậy, vào cuối đời Trần, tuy còn thưa thớt nhưng khắp địa bàn Quỳnh Lưu đều có cư dân sinh sống
Từ đời Lê trở về sau, trên địa bàn Quỳnh Lưu việc khai khẩn được đẩy mạnh hơn. Song dù là người ở ngoài Bắc vào hay là người từ các làng xã cũ ở Quỳnh Lưu san ra, cũng chỉ là chen vào những vùng đồng bằng nước mặn, dân cư thưa thớt như Phú Minh (Quỳnh Minh) là từ Thổ Đôi xuống; Hiền Lương (Quỳnh Lương) là từ Cự Tân sang
Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, cư dân Quỳnh Lưu lại có hiện tượng ngược lại: Là không từ miền Tây hay Tây Bắc xuống nữa mà các xã vùng giữa và vùng biển lại chuyển cư lên để lập xã mới. Chưa kể những xã có hiện tượng “đắm dân”, bốn xã mới đã ra đời là: Quỳnh Thắng, Quỳnh Tân, Ngọc Sơn, Tân Sơn. Điều này là do tăng trưởng dân số, xong cũng là còn là do tiến bộ của khoa học kỹ thuật, con người chế ngự thiên nhiên được mạnh mẽ hơn
Trong cư dân Quỳnh Lưu, ngoài người bản địa, còn có người từ Trung Quốc sang mà rõ nhất là họ Hồ từ đời Hồ Hưng Dật, có người từ ngoài Bắc từ Thanh Hoá vào, có người từ Hà Tĩnh ra hay các huyện khác ở Nghệ An đến. Có người Việt, có bà con dân tộc ít người (người Man Thanh). Họ đến Quỳnh Lưu vào nhiều thời điểm khác nhau với nhiều lý do khác nhau nhưng giờ đây thời gian đã xoá nhoà gốc gác xa xưa của họ. Họ chỉ biết mình là người Quỳnh Lưu, đi đâu, ở đâu cũng nhớ mình là người Quỳnh Lưu, địa đầu xứ Nghệ của Tổ quốc Việt Nam


 (Sưu tầm)

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#5 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:14:14

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh ở Quỳnh Lưu

QuynhLuu Cập nhật 01/06/2006)

Trong suốt quá trình hình thành của mình, Quỳnh Lưu đã có rất nhiều các di tích và danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Rất nhiều trong số này đã được Nhà nước công nhận và xếp hạng. Dưới đây là danh sách các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử của Quỳnh Lưu

Các Di tích lịch sử được nhà nước xếp hạng
- Đền Cờn ở xã Quỳnh Phương
- Di chỉ khảo cổ học Quỳnh Văn ở xã Quỳnh Văn
- Đền Xuân Úc ở xã Quỳnh Liên
- Đền Vưu ở xã Quỳnh Vinh
- Đền Quỳnh Tụ
- Nhà thờ hộ Hồ ở xã Quỳnh Đôi
- Đình Tám Mái ở xã Quỳnh Thuận
- Đình Làng Quỳnh Đôi ở xã Quỳnh Đôi
- Đền Thượng ở xã Quỳnh Nghĩa
- Đền Xuân Hoà ở xã Quỳnh Xuân.

Các danh lam và di tích lịch sử khác
- Nhà thờ Hồ Sĩ Dương ở xã Quỳnh Đôi
- Nhà thờ cụ Án Nam (Hồ Bá Ôn) ở xã Quỳnh Đôi
- Nhà thờ họ Nguyễn ở xã Quỳnh Đôi
- Nhà thờ Nguyễn Ba Lai ở xã Quỳnh Giang
- Bệnh viện phong Quỳnh Lập, di tích cách mạng ở xã Quỳnh Lập
- Bảo Ninh từ và đền Bình an ở xã Quỳnh Thiện
- Đền Voi (Nhân Sơn) ở xã Quỳnh Hồng
- Nhà thờ họ Trần Văn và mộ Trần Suất ở xã An Hoà.
- Nhà thờ họ Hồ và lăng mộ cụ Hồ Nhân ở Quỳnh Bảng
- Nhà thờ cụ Phạm Đình Toái ở Quỳnh Bảng
- Đền Phú Mỹ ở Quỳnh Hoa
- Nhà thờ tướng công Hồ Đình Đệ ở Quỳnh Bảng
- Nhà thờ Quỳnh quận công Hồ Phi Tích ở Quỳnh Đôi.
- Mộ cụ Hồ Tùng Mậu ở Quỳnh Đôi.
- Đền Đệ Tam ở Quỳnh Xuân
- Núi Quy Lĩnh ở Quỳnh Lương
- Cây gạo ở Quỳnh Lương
- Đền Rậm ở Quỳnh Văn
- Đình Hồng Hưng ở Quỳnh Đôi
- Đền Nhị Yên ở Quỳnh Trang
- Trận địa máy bay Mỹ ở xã Quỳnh Trang
- Chùa Đót ở xã Quỳnh Long
- Chùa Thanh Sơn ở xã Sơn Hải
- Đền Ngọc Huy ở xã Mai Hùng
- Miếu Ngư - Đền Câu ở xã Sơn Hải
- Miếu Cồn Đình ở xã Mai Hùng
- Đình Kim Lung ở xã Mai Hùng
- Núi Phượng Cương ở xã Quỳnh Thuận
- Đền Chính ở xã Tiến Thuỷ
- Chùa Ốc ở xã Tiến Thuỷ
- Đền Thọ Nhang ở xã Tiến Thuỷ
- Cồn Bãi - Giếng Tây ở xã Quỳnh Yên
- Miếu Thạch Động ở xã Quỳnh Thạch
- Miếu Quỳnh Viên ở xã Quỳnh Thạch
- Đền và giếng Ngoã Trường ở xã Quỳnh Diễn
- Bia đá ở xã Quỳnh Diễn
- Đình Thuận Yên ở xã Quỳnh Ngọc
- Núi Hưng ở xã Quỳnh Thọ
- Mộ Ngô Nhân Nạp ở xã Quỳnh Thọ
- Đình Trung ở xã Quỳnh Hưng
- Núi Rồng – Hàm Ếch ở xã Quỳnh Nghĩa
- Đồi Đất ở xã Quỳnh Nghĩa
- Đền Hạ ở xã Quỳnh Lập
- Nghè Giáp Nhất ở xã Quỳnh Lập
- Lèn Bổ Bóng ở xã Quỳnh Lộc
- Gò Lạp ở xã Quỳnh Minh
Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#6 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:15:36

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.
Thị trấn Cầu Giát:

Hướng tới một thị xã trong tương lai


Thị trấn Cầu Giát là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của huyện Quỳnh Lưu, có địa hình tương đối bằng phẳng, là vùng được hình thành do quá trình bồi đắp phù sa cách đây trên 1000 năm. Diện tích đất tự nhiên 115 ha, nhỏ nhất so với các xã khác trong toàn huyện. Phía Tây giáp Quỳnh Mỹ và Quỳnh Lâm, phía nam giáp Quỳnh Giang, phía đông và bắc giáp Quỳnh Hồng. Tuy diện tích nhỏ hẹp nhưng tập trung đông dân cư. Dân số 7 ngàn người với 8 khối phân bố rộng rãi khắp địa bàn.

Thị trấn Cầu Giát là một trong những địa phương có nhiều nghề thủ công truyền thống sản xuất phát triển như: Cơ khí, đồ gỗ, trang trí nội thất, chế biến lương thực thực phẩm, gạch ngói xây dựng…Nhiều sản phẩm được khách hàng ưa chuộng, đáng ghi nhận là năm 2007 cơ khí Lưu Hồng được nhận giải thưởng “ Sao vàng Đất Việt” với sản phẩm sản xuất Larăng ô tô. Nhờ có sự định hướng của Đảng bộ, chính quyền cho các hộ gia đình sản xuất, nên hàng năm đã giải quyết cho 150-200 lao động có việc làm ổn định. Năm 2007, tổng giá trị sản xuất đạt 57,66 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người 1.200.000 đ/tháng.

Hoạt động dịch vụ phát triển đa dạng đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng cho nhân dân thị trấn và nhân dân trong vùng. Một số dịch vụ, mặt hàng phát triển rầm rộ như: Dich vụ xe máy, điện tử, điện lạnh, vận tải ô tô, nhà hàng, khách sạn…Theo thống kê năm 2007 trên địa bàn có 944 hộ sản xuất kinh doanh, 38 doanh nghiệp, công ty TNHH với tổng doanh thu đạt 122,88 tỷ đồng, chiếm 66% tổng doanh thu toàn thị trấn, đưa tốc độ tăng trưởng đạt 18% giai đoạn 2004-2007 góp phần quan trọng cho sự tăng trưởng phát triển kinh tế địa phương.

Với 18 ha đất nông nghiệp, chủ yếu là đất trồng trọt độc canh cây lúa thì những năm gần đây Đảng ủy, chính quyền địa phương đã chỉ đạo tập trung xây dựng được năm mô hình kinh tế trong nông nghiệp theo hướng vườn trại kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm. Cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi của thị trấn hàng năm chỉ đạt từ 1 đến 2 tỷ đồng, chiếm 2-3 % trong tỷ trọng cơ cấu của thị trấn. Nhưng đây là tín hiệu đáng mừng phù hợp với định hướng cơ cấu phát triển của địa phương trong việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực giảm tỷ trọng nông nghiệp từ 6% năm 2004 xuống 25 năm 2007, tăng tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp xây dựng lên 32%

Những năm gần đây Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thị trấn Cầu Giát đã không ngừng nỗ lực xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng. Đến nay các công trình xây dựng cơ bản như: Trường học, trạm y tế, nhà văn hóa các khối, chợ gia súc…tương đối hoàn chỉnh. Bên tông hóa kênh mương nội đồng với tổng chiều dài 876 m, cải tạo mạng lưới điện và nâng cấp 4 trạm biến với tổng công suất 1.200 kwh với tổng kinh phí đầu tư 5,84 tỷ đồng.

Thị trấn Cầu Giát đã hoàn thành việc phổ cập giáo dục, về văn hóa tiếp tục thực hiện phong trào” Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư” Hiện thị trấn có 994 hộ đạt gia đình văn hóa chiếm 71% tổng số hộ, có 342 hộ đạt danh hiệu gia đình thể thao…

Với khí hậu mát mẻ, là trung tâm huyện lỵ, thị trấn Cầu Giát có những lợi thế và tiềm năng vượt trội hơn so với các xã khác trong toàn huyện, đặc biệt là trong những năm gần đây một số dự án đầu tư đã và đang được thực hiện trên địa bàn như: Siêu thị Quỳnh Lưu Plaza là trung tâm thương mại của thị trấn, dự án quy hoạch mở rộng thị trấn, dự án nâng cấp mở rộng quốc lộ 1A, đường 537A qua thị trấn đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt kinh tế-xã hội của thị trấn. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng vân chưa xứng đáng với tiềm năng và vị thế của thị trấn, khởi công xây dựng tuyến đường một chiều quốc lộ 1A đoạn qua thị trấn Cầu Giát, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, sớm xúc tiến triển khai xây dựng trung tâm thương mại chợ Giát và bến xe đảm bảo cho việc lưu thông hàng hóa… Đó là những yếu tố quan trọng và thời cơ thuận lợi để thị trấn trở thành điểm đến, trở thành thị xã vào năm 2015. Đây cũng là cơ hội để thu hút các nhà đầu tư phát triển các ngành kinh tế dịch vụ nâng cao đời sống nhân dân, tạo tiền đề cho thị trấn phát triển cao hơn.

Ghi nhận những thành tựu đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Thị trấn Cầu Giát là đơn vị 2 năm liền được Thủ tướng Chính phủ, UBND Tỉnh tặng bằng khen trong việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2006 góp phần vào việc ổn định và phát triển KT-KH của địa phương.
Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#7 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:18:05

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Các trò chơi phổ biến của quê hương Quỳnh Lưu (phần 1)

Đua thuyền
(QuynhLuu Cập nhật 07/06/2006)


Thiện Kỵ, Dị Nậu, Thọ Vinh, Quý Vinh, Động Hồi, Hải Lệ, Phương Cần, Xuân Úc, Văn Thai, Thanh Đàm, Phú Nghĩa, Phú Đa, Phú Lương,… tổ chức lễ hội đều có đua thuyền. Cuộc đua thuyền diễn ra trong một buổi, nhưng các làng chuẩn bị hàng tháng trước ngày lễ hội.
Quy mô tổ chức đua thuyền thường trong phạm vi từng làng. Làng có bao nhiêu giáp thì có bấy nhiêu thuyền. Thông thường có từ 4 đến 6 thuyền. Thuyền đua được đóng cẩn thận có hình thon dài, mặt ngoài hun khói la thông và bôi trơn để tăng độ lướt trên nước. Một số làng, thuyền đua được trạm trổ hình rồng phượng gọi là thuyền long mã. Để thắng cuộc đua thuyền trong lễ hội, làng hoặc giáp phải chọn trai tráng khoẻ mạnh, thạo sông nước, luyện tập trước đó một số ngày.MỗI thuyền đua gồm có: một người chèo lái ở mũi thuyền gọi là chèo đốc làm nhiệm vụ chỉ huy. Bên cạnh là người cầm cờ và một người cầm mõ để phát lệnh khua quân. Mỗi mạn thuyền có 6 người cầm dầm đuôi thuyền có 2 người chèo. Cáo thần xong khi một hồi trống lệnh xuất phát dóng vang, 12 dầm tung xuống nước cùng một lúc: nhanh, gọn và dứt khoát.Trên đường đua mõ thúc, cờ phất, dầm khoát nước, lái dẫn thuyền lướt và cùng thúc quân. Hai bên bờ sông, dài từ 3-5 km, dân làng đứng xem vỗ tay reo hò vang dội.
Thuyền được giải trước khi nhận giải bằng hiện vật phải vào đền bái tạ thần. Lúc trao giải, pháo nổ vang làm cho ngày hội làng thêm tưng bừng náo nhiệt.
Đua thuyền hàng tổng, mỗi làng có một thuyền đua. Cách thức tổ chức cũng như đua thuyền trong một làng, có điều to lớn hơn, rầm rộ hơn. Cuộc đua thuyền hàng tổng của tổng Hoàng Mai thường tổ chức tại đền Cờn. Điều này cho ta rõ lễ hội có đua thuyền thường mang ý nghĩa nông nghiệp, nghĩa là cầu phong hoà vũ thuận, cầu được mùa, no ấm.



Đấu vật
(QuynhLuu Cập nhật 07/06/2006)


Tuy không nhiều “lò vật” bằng Diễn Châu, nhưng làng nào có tổ chức lễ hội là có đấu vật. Đấu vật không chỉ diễn ra trong lễ hội mà trong cả tết Nguyên Đán nhất là ngày khai hạ. Đấu vật khá phổ biến tại các làng ở Quỳnh Lưu, nhưng trội hơn cả là ở Văn Thai, Tiên Đội, Luyện Đồng Cao Hậu Đông, Xuân Úc, Quỳnh Đôi, Nhân Sơn, 5 làng thuộc xã ngũ bàu cũ…
Đấu vật ở Quỳnh Lưu không chỉ diễn ra trong qui mô “làng” mà còn cả quy mô “tổng”. NgườI thẵng cuộc vừa bàng sức vừa bằng mưu.
Giải vật thường là cỗ xôi, con gà với quan tiền đồng, chai rượu và cơi trầu. Như vậy đã quý lắm rồi. Cả họ tự hào là đô vật làng mình đã thắng cuộc tại “cuộc vật hàng tổng”. Cho đến bây giờ nhân dân Quỳnh Lưu vẫn còn nhớ đến những đô vật có sức khỏe lạ thường và mưu trí như cố Đồng Đen ở Cao Hậu Đông, Hồ Sĩ Nhợi, Nguyễn Văn Kỷ ở Quỳnh Đôi…




Đánh cờ người
(QuynhLuu Cập nhật 07/06/2006)


Cũng như đánh cờ thẻ hay cờ trịch, đánh cờ người, người ngồi làm quân cờ, mà người đây phải là trai thanh gái tú đã được tuyển chọn làm nữ quan đi sau kiệu khi rước nghênh thần.
Trước hội làng độ 10 ngày, làng đã cử ra “tổng cờ” để tập rượt. Những ngày tập rượt và cả những ngày thi đấu tại làng mình hay làng khác, “tổng cờ” phải nuôi quân. Kinh phí do làng cấp một phần, “tổng cờ” chịu một phần. Sau đó, làng phải dựng sân bãi chuẩn bị trang phục cho quân cờ và dựng lầu tướng.
Quân cờ nam thường mặc áo dài lương màu lam quần trắng, đi giày hạ, đội khăn đóng; quân cờ nữ mặc áo dài màu phớt hồng, quần trắng, đi hài, đội khăn đóng màu đỏ. Tướng ông và tướng bà phải là trai gái đẹp hơn cả, ăn mặc oai vệ hơn, ngồi trong lầu tướng mỗi bên. Làng chọn người cao cờ nhất để đối chọi với những địch thủ khác đến chơi. Trong bàn cờ, làng đặt một án thư là nơi ngồi của ông tổng cờ và người cầm trịch tức người thông thạo lối đánh cờ người gọi là “bàn khảo trịch”.Tổng cờ lo việc tổ chức và đánh trống cái lớn. Mở đầu, hai bên đối thủ đến bàn khảo trịch bắt thăm để xem bên nào được đi trước. Sau đó, ông tổng cờ cầm trống hiệu trước 2 tường và 30 quân đi theo hình chữ “cung phụng” và “bái hạ” ra các vị trí đã định cho từng quân cờ.Mỗi vị trí có một cái ghế đẩu nhỏ để quân cờ ngồi. Khi hai bên chơi cờ người cầm trịch cấm trống con để gõ giục người bí nước hoặc tán thưởng nước đi hay của hai bên.

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#8 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:19:42

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Các trò chơi phổ biến của quê hương Quỳnh Lưu (phần 2)

Trò Thiên Vương ở Hữu Lập
(QuynhLuu Cập nhật 07/06/2006)


Trò Thiên Vương là một hoạt cảnh ca, vũ, kịch, nhạc mà một tác giả khuyết danh đã dựa vào trò phường tướng tại các đám ma nhà phú hữu, nâng nó lên thành trò diễn, đã được trình diễn từ lâu, nhiều năm tại các dịp lễ kỳ phúc hay lễ hội ở Hữu Lập (Quỳnh Lập).
Trò diễn này, các nhân vật không có tên cụ thể mà chỉ là khái niệm gồm vua, sứ giả, các tướng Đông Phương, Tây Phương, Nam Phương, Bắc Phương, Trung Phương, các nhân vật này khi ra sân khấu đều ăn mặc như các nhân vật khi diễn tuồng.
Lời hát cùng giọng hát, làn hát (chủ yếu là các làn hát xướng, hát sai, hát lên đồng, hát sắc bùa,…) cùng với điệu bộ, hoá trang, các nhạc cụ tấu lên trong khi diến đã khắc sâu trong tâm trí người dân Hữu Lập, người dân đến xem một quan niệm về cầu phúc, đuổi quỉ, trừ tà vào dịp đầu năm để yên tâm tin tưởng vào sự làm ăn sự phù hộ của trời, đất, thánh, thần

Đấu võ
(QuynhLuu Cập nhật 07/06/2006)


Đầu năm lễ hội, các làng Bèo Hậu, Nhân Huống, Đông Hồi, Hải Lệ, Thanh Đàm, Yên Đình…thường xuyên tổ chức đấu võ. Võ thuật ở Quỳnh Lưu theo môn phái võ Nhất Nam, một trong những phái võ có truyền thống lâu đờI của vùng Hoan Diễn. Đây là môn phái có quy mô và tổ chức cao.
Với một hệ thống các môn phá gay cấn, toàn diện, các bài quyền phong phú, môn binh khí độc đáo, cha ông ta đã từng sử dụng để chiến đấu thằng quân thù.
Tại các lễ hội hay ngày Nguyên Đán, làng nào ở Quỳnh Lưu có tổ chức đấu võ thì cũng chỉ đấu quyền, đấu côn, đấu roi, ít khi đấu có vũ khí bằng sắt như kiếm, mác, mã tấu,…Võ sĩ ra đấu võ bao giờ cũng múa võ cho quần chùng xem, sau đó mới đấu với nhau. Giải võ cung tương tự như giải vật.


Chơi diều ở Xuân Úc
(QuynhLuu Cập nhật 07/06/2006)


Tục này không vào mùa xuân mà vào mùa hè. Trời cao xanh ngắt một màu, biển rộng thênh thênh, trước sân đền Xuân Úc, hàng trăn con diều, cái to cái nhỏ, lơ lửng trên không. Tiếng sáo diều vi vu cái xa, cái gần, cái réo rắt ngân nga, cái vo vo đều đều,…làm xao động cả dòng nước Mai Giang và làn gió biển.
Nhân dân Xuân Úc không chỉ chơi diều mà còn thi diều. Tục thi diều không định một ngày cụ thể hàng năm mà một ngày nào đó trong mùa hè. Một mùa có thể thi vài ba lần. Người dự thi không chỉ làng Xuân Úc mà các làng khác trong huyện. Diều nào lên cao, đứng dây, tiếng sáo (có thể sáo một, sáo đôi) to, giòn, trong…thì người có con diều ấy được giải. Để làm được con diều như vậy không đơn giản, từ kiếm nan, giấy, dây, ống sáo,…đến vót nan, phết giấy, chắp dây, khoét sáo,…đều công phu lắm.
Đây là thú chơi tinh thần thanh nhã. Còn gì khoan khoái hơn khi ngồI trên bờ biển vào ban chiều, tận hưởng làn gió nồm mát rượI từ ngoài biển thổi vào, tai được nghe tiếng sao diều trong veo từ không trung vọng tới.
Đâu chỉ Xuân Úc chơi diều, mà Phú Đa, Phú Lương, Phú Minh, Phú Nghĩa, Phương Cầu, Thanh Đàm,…đều chơi diều. Nên ca dao làng Quỳnh có câu:
Làng ta khoa bảng thật nhiều,
Như cây trên núi, như diều trên không


Trò lề ở Phú Nghĩa
(QuynhLuu Cập nhật 07/06/2006)


Tại sao nói là “Trò Lề”? Có người cho rằng đó là “Trò Lễ”, trò được trình diễn trong lễ hội; có người cho rằng trò đó được trình diễn có lề thói, có quy củ. Hai cách hiểu trên đều đúng.
Trò Lề bắt đầu từ tháng 2 âm lịch, 12 năm một lần và toàn bộ lễ hội này kéo dài trong một thàng trời. Trò diễn lại cuộc đánh quân Cà Hóp khi xưa chỉ trong 7 ngày, nhưng phải luyện tập mấy tháng trời. Theo thông lệ Phú Nghĩa Thượng nay là Quỳnh Nghĩa đóng quân Triều; Phú Nghĩa Hạ nay là Tiến Thuỷ đóng Quân Hóp. Quân Hóp bày thế “bát môn kim toả” các cửa đều có quân lính cầm cờ lệnh, cờ ngũ hành, có cai cờ đứng đứng canh cửa; có điếm canh, trên điếm có treo một một cái trống mõ, ban đêm lính điếm canh đánh trống thùng thùng và mõ sinh cắc cắc. Quân lính nai nịt gọn ghẽ, kẻ cầm mác, người cầm giáo,…đứng trong thế trận, hai bên các cửa trận. Giữa trận là một bàn thờ (phần âm).Trận bày xong, quan viên làm lễ tế, sau đó dân làng Phú Nghĩa và các làng trong vùng cũng vào cúng lễ, kẻ cầu phúc, người cầu tự. Một điều bắt buộc là phải vào cửa Đông, ra cửa Tây.
Lễ hội ở Đại Nghĩa, ngoài diễn lại các trận đánh quân Cà Hóp trong cuộc đại tế (mà đại tế thì nhiều lần) còn có:
- Hát múa trống quân.
- Múa sênh tiền theo điệu nhạc bát âm.
- Múa chèo cạn.
- Trò “Sĩ, nông, công, thương”, “Ngư, tiều, canh, mục”, trò “kéo dao”, “hàng thịt”, “hàng mít”, “hàng cá”, “trò sư và đạo tràng”…kết thúc lễ hộI có bắn pháo bông, pháo hoa.
Rõ ràng lễ hội ở Phú Nghĩa vừa là lễ hội nông nghiệp vừa là lệ hội lịch sử được tổ chức công phu, hội tụ nhiều ý nghĩa: thể hiện trí thông minh, tinh thần thượng võ, ham thích nghệ thuật, đề cao lao động và người lao động, hâm mộ anh hùng, biết ơn những người có công, mong mỏi một cuộc sống thanh bình, no đủ,…của nhân dân.

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#9 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:21:16

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Các trò chơi phổ biến của quê hương Quỳnh Lưu (phần 3)


Thi văn
(QuynhLuu Cập nhật 07/06/2006)


Thi văn được tổ chức hàng năm vào tháng giêng ở Quỳnh Đôi. Hương lệ Quỳnh Đôi điều 10 ghi: “Ngày 16 làm lệ khảo làng. Các thầy và học trò chưa đầy 40 tuổi nghe ba hồi trống đều đem bút giấy ra đình trung, ai bỏ thiếu phạt 6 tiền”.
Ngày “khảo làng” ở Quỳnh Đôi tuy không có lễ tế thần với đầy đủ nghi thức nhưng nơi sân đình có cắm cờ ngũ hành, có biện trầu rượu cáo thần trước khi quan viên và các thí sinh vào đình, có đông đảo bà con dân làng đến xem con em mình trổ tài nghiên bút thì đó cũng là một hình thức hội làng.
Các nói khác: Thanh Đàm, Ngọc Lâm, Thanh Đoài, Văn Thai,…thường tổ chức thi văn trước hội làng 10 ngày. Có làng mỗi năm một lần, có làng 3 năm một lần, tuỳ theo kỳ hội làng mà quy định. Đây là cuộc thi chọn người “đủ tiêu chuẩn” vào văn hội.

Chạy Ói ở Phương Cần
(QuynhLuu Cập nhật 07/06/2006)


Tục chạy Ói diên ra vào ngày 21 tháng giêng. Đây là tục chạy giải của làng hương Cần, chậy từ đền Cờn đến hòn Ói.Cách đền Cờn khaỏng 4 km, nằm trên bờ biển, giáp ranh giữa Quỳnh Lương và Quỳnh Bảng. Tại sao lại chạy đến hòn Ói?
Tục chạy này được tổ chức là để nhớ lại một huyền thoại từ xa xưa. Nó thể hiện tinh thần thượng võ của nhân dân làng Phương Cần.
Ba năm một lần, vào dịp lễ hội “chạy Ói”, tại hòn Ói có cắm những cọc tiêu. Bốn giáp của làng Phương Cần đều cử trai tráng khoẻ mạnh của giáp mình ra chạy giải. Những người chạy giải đều đóng khố, đầu chít khăn thủ rìu khác nhau để phân biệt là người của giáp nào. Ai chạy nhanh đến hòn Ói nhổ cọc tiêu đem về nộp trước, sẽ được giải. Dân Phương Cần quan niệm rằng, giáp nào thắng trong cuộc “chạy Ói”, năm đó sẽ làm ăn tấn tới.


Lễ hội Đền Cờn
(QuynhLuu Cập nhật 07/06/2006)


Hiện nay, đền Ngoài bị hư hỏng, chỉ còn lại những tàn tích đổ nát, được nhân dân tập hợp lại như lư hương bằng đá, tượng nghê đá, phỗng đá...đền Trong cũng bị hư hỏng không ít, may còn giữ lại được đôi chút kết cấu của kiến trúc. Hầu hết các di vật còn lại ở đền được đưa vào đặt tại đền Trung. Đó là bàn thờ, khám thờ, ngai, các tượng nghê, tượng phỗng cầm bát hương, tượng người cầm tay thước, khám...
Trong đó có hai ngai cùng có tượng nữ mặc áo vàng. Phần kiến trúc còn giữ lại được ở đền Trung quả là một công trình nghệ thuật lớn với những mảng chạm đều là những tác phẩm điêu luyện.

Đền thờ tứ vị thánh, hiện còn ghi lại như sau: “Đại càn quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương thượng đẳng thần ngọc bộ hạ”. Truyền thuyết về các Bà đã dược ông Nguyễn Đổng Chi ghi trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam.

Lúc đầu, người dân Quỳnh Bảng lập đền thờ các Bà nên làm ăn rất phát đạt. Trước đây, người dân Phương Cần đẩy các Bà đi, sau nghĩ lại, bèn họp nhau xuống cướp bài vị về thờ. Cuộc tranh dành kéo dài và bất phân thắng bại, họ bèn đem việc này lên xin vua Bà xử kiện. Vua Bà báo mộng bảo hai làng bốc bát hương đồng lên thờ, nếu bên nào bát hương cháy từ dưới lên thì bên đó được chính vị thờ Người. Cuối cùng, dân Phương Cần thắng, nhưng cũng từ đó cả hai làng đều thờ và thân thiện với nhau. vì vậy, hàng năm khi vào dịp hội đền Cờn lại có tục chạy ói để diễn lại sự tích ấy.

Hội chính đền Cờn xưa kéo dài từ 15 đến 21 tháng giêng âm lịch, nhưng từ đầu tháng giêng dân làng Phương Cần đã chuẩn bị cho ngày hội. Làng có bốn giáp Nhất, Nhị, Tam, Tứ cũng là bốn tổ chức cơ bản tạo nên ngày hội làng.

Ngày mồng sáu tháng giêng làng tiến hành cuộc tế xuân đầu tiên để chuẩn bị vào hội chính thức. Cuộc tế diễn ra rất linh đình với đồ tế là “lợn bồi trâu” tức là 5 con trâu thịt bỏ ruột, 5 con lợn cũng vậy nhưng được đặt lên lưng 5 con trâu!

Sáng ngày mồng bảy tháng giêng, người ta tiến hành tế bánh dầy. Bánh được làm to, cao, hết rất nhiều gạo. Mỗi giáp đều phải làm bốn chiếc “bánh giống”. Bốn chiếc bánh này hết một thùng gạo (20 kg). Bánh giống được đem ra đền thờ các vị thánh, sau đó riêng ông Seo (tên gọi người trưởng giáp) được biếu hai cái, còn lại hai cái chia phần cho cả giáp. Ngoài ra giáp còn làm một chiếc bánh dầy to, cao, bằng cả một thùng gạo nếp 20kg, gọi là bánh cọc. Bánh này được rước ra đền để lễ thánh, rồi đồng dân cùng hưởng.

Sau hai ngày tế ấy là thời gian của các trai đi mừng, tức là chia thành từng nhóm đi quyên tiền của bà con trong làng, thêm thắt cho ngày hội. Họ có thể đi cả sang các làng bên quyên góp. Dù nhiều dù ít, nhà nào cũng có dù tiền, gạo, hoặc vật gì đó góp chung, mong ngày hội được đông vui. Ai cũng nghĩ như một việc làm lấy may của đầu năm mới, đồng thời tỏ rõ sự sởi lởi của mình để cầu sự ban ân trong năm được may mắn và phát đạt.

Không khí hội hè kéo dài như vậy cho tới ngày rằm tháng giêng. Dân ở đây thay câu Lễ Phật quanh năm không bằng ngày rằm tháng giêng bằng câu:

Cả năm được rằm tháng bảy

Cả thẩy được rằm tháng giêng.

Ngày 15 tháng giêng làm lễ nghiềm quân, tức là rước tất cả các đồ thờ tự như kiệu, tàn, lọng, chấp kích v.v... ra để kiểm điểm lại xem thiếu hụt, hỏng như thế nào. Mọi thứ được bày biện, lắp ráp lau chùi bóng loáng, cờ quạt được treo lên, được xỏ vào cán, tất cả xếp theo hàng lối rực rỡ cả một khu đền. Ngày 16 tháng giêng người ta tổ chức rước một kiệu có 4 tàn vàng che, lên chùa thăm sư ông, tượng trưng như thánh lên chùa vấn an Phật. Ngày 17 tháng giêng rước một kiệu, được các nữ đảm trách có tám tàn che và các đồ thờ khác đặt ngoài chợ. Trong suốt ba ngày ba đêm 17, 18 và 19 tháng giêng có tổ chức hát bội rất đông vui mỗi ngày kiệu được một hoặc hai phường bán hàng ở chợ ủng hộ hương, đăng, trầu, rượu. Thậm chí, họ còn có thể lo cả tối vui của ngày hôm đó. Cho nên vào những ngày này cả khu vực chợ là một sân khấu hội rất lớn và đông vui không kể xiết. Tất cả diễn ra vui vẻ cho đến ngày 20 tháng giêng. Tất cả các kiệu cùng nghi trượng được rước tập trung tại đền vào ngày 20 tháng giêng, chờ ở đây để chuẩn bị chạy ôi. Cả ngày 20 tháng giêng trong làng cũng như ngoài đền không khí thật nhộn nhịp. Người ta nóng lòng chờ đợi giờ phút linh thiêng của tục chạy ôi, tức chờ đợi đức thánh động ngự (dấu hiệu biểu hiện cho phép chạy ôi). Các cụ già làm lễ thủ giò, xem chân gà có nóng không, đó là dấu hiệu thánh động ngự. Chạy ôi tức là chạy xuống hòn Ôi ở ngoài biển, nơi xác đức thánh mẫu và các công chúa trôi dạt ở đó. Nay để diễn lại sự tích “hai làng tranh nhau bài vị” người ta diễn tục chạy ôi tượng trưng. Người tham dự là của bốn giáp Phương cầu. Qua 12 giờ đêm 20 tháng giêng, sau khi các cụ xem xét thấy đã được phép chạy ôi, thì người chủ tế ra lệnh để người của bốn giáp đã được phân công sẵn ai cầm gì, rước gì, rầm rập chạy. Ai chạy đến trước thì giáp đó thắng cuộc.

Sáng ngày 21 tháng giêng, mọi thủ tục đã tiến hành xong. Trong đền tiếp tục tế lễ. Các trò vui những hôm trước diễn ra chủ yếu ngoài chợ thì nay dồn vào đền, mà nổi bật là đua thuyền trên dòng Mai Giang trước đền.

Ngoài đua thuyền, tại sân đền và các bãi xung quanh còn có đu, đấu vật, đấu cờ và những trò chơi khác. Ngày hội kết thúc trong không khí tưng bừng của mùa xuân, báo hiệu một năm mới tốt lành./.

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#10 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:23:14

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Quỳnh Lưu

Quỳnh Lưu là huyện địa đầu của tỉnh Nghệ An.


Địa lý


Phía bắc huyện Quỳnh Lưu giáp huyện Tĩnh Gia (Thanh Hoá); phía nam và tây nam giáp với Diễn Châu và huyện Yên Thành với ranh giới khoảng 31 km; phía tây giáp huyện Nghĩa Đàn; phía đông giáp biển Đông. Huyện lỵ là thị trấn Cầu Giát, các thành phố Vinh 50 km.

Diện tích đất tự nhiên: 58.507 ha
Diện tích đất dùng vào nông nghiệp là : 15.427,64 ha
Dân số tính đến năm 1999 là 340.725 người
Huyện này có một số xã thuộc miền núi trung du như Quỳnh Châu, Quỳnh Tam, Quỳnh Thắng, nhưng phần lớn các xã nằm ở vùng đồng bằng nhỏ hẹp dọc theo biển Đông. Về giao thông, huyện này có tuyến đường sắt địa phương nối từ Giát qua ngã ba Tam Lệ, lên huyện Nghĩa Đàn. Đây là một trong số rất ít các tuyến đường sắt nội tỉnh ở Việt Nam, nối đường sắt quốc gia với vùng đất đỏ Phủ Quỳ.

Tại huyện Quỳnh Lưu có đền Cờn là một di tích lịch sử được nhắc đến trong những sách cổ chứng tỏ vùng này từ xa xưa đã chịu nhiều trận bão.

Người dân vùng biển thường sống bằng nghề chài lưới và trồng rau. Người miền rừng trồng cây trái (tương truyền có nghề đánh bắt hổ nhưng nay đã không còn nữa).

Hành chính


Gồm 2 thị trấn và 41 xã: Thị trấn Cầu Giát; Thị trấn Hoàng Mai; Quỳnh Thắng; Quỳnh Vinh; Quỳnh Lộc; Quỳnh Lập; Quỳnh Trang; Quỳnh Tân; Quỳnh Châu; Quỳnh Dị; Quỳnh Xuân; Quỳnh Phương; Quỳnh Liên; Quỳnh Văn; Quỳnh Tam; Quỳnh Hoa; Quỳnh Thạch; Quỳnh bảng; Quỳnh Mỹ; Quỳnh Thanh; Quỳnh Hậu; Quỳnh Lâm; Quỳnh Đôi; Quỳnh Lương; Quỳnh Hồng; Quỳnh Yên; Quỳnh Bá; Quỳnh Minh; Quỳnh Diện; Quỳnh Hưng; Quỳnh Giang; Quỳnh Ngọc; Quỳnh Nghĩa; Quỳnh Thọ; Quỳnh Thuận; Quỳnh Long; Mai Hùng; Tân Sơn; Ngọc Sơn; An Hòa; Tiến Thủy; Sơn Hải; Tân Thắng.


Lịch sử-Văn hóa


Quỳnh Lưu là một vùng đất cổ có cư dân sinh sống từ rất lâu đời, là nơi có di chỉ văn hoá Quỳnh Văn.
Tên Quỳnh Lưu xuất hiện vào thế kỷ 15 thời nhà Lê (1430) ở cương vực từ biển Đông lên tận Quỳ Châu gồm 7 tổng phía trên (thuộc đất huyện Nghĩa Đàn hiện nay) và 4 tổng phía dưới (thuộc đất huyện Quỳnh Lưu ngày nay).
Quỳnh Lưu còn là nơi phát tích của dòng họ Hồ ở Việt Nam từ thế kỷ thứ 10. Hồ Hưng Dật, người huyện Vũ Lâm, tỉnh Chiết Giang, đậ­u Trạng nguyên từ thời vua Ẩn Đế (948 - 995) nhà Hậu Hán, sang làm Thái thú Châu Diễn, đến hương Bào Đột (nay thuộc xã Quỳnh Lâm và xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) lậ­p nghiệp, làm trại chủ và trở thành vị tổ khai cơ họ Hồ ở Châu Diễn. Họ Hồ ở Quỳnh Lưu có các nhân vật nổi tiếng như nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương; bảng nhãn Hồ Sĩ Dương, Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống, Hồ Phi Tích, nhà cách mạng Hồ Tùng Mậu,... Họ Hồ đến Yên Thành thì có Hồ Tông Thốc,... ra Thanh Hóa thì sinh ra Hồ Quý Ly,... vào Hưng Nguyên thì tạo nên dòng dõi Quang Trung nhà Tây Sơn.
Quỳnh Lưu còn là quê hương của nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng trong lịch sử như: Thám hoa Dương Cát Phủ; danh sĩ Phạm Đình Toái...

Ngày nay có những người nổi tiếng: chính khách Hoàng Văn Hoan, Hồ Đức Việt; nhà văn Nguyễn Minh Châu (tác giả Dấu chân người lính); nhà văn Bùi Hiển; nhà thơ Tú Mỡ; nhà thơ Hoàng Trung Thông; Giáo sư Phan Cự Đệ; Anh hùng Cù Chính Lan...

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#11 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:24:19

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Làng Quỳnh Đôi: Làng văn hoá, xã anh hùng.

Quê hương của nhà Cách mạng Hồ Tùng Mậu, Anh hùng Cù Chính Lan, nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhà thơ Hoàng Trung Thông, Giáo sư Phan Cự Đệ, Văn Như Cương...

Từ Thủ đô Hà Nội quốc lộ 1A xuôi về Nam khoảng 250 km đến gần một nơi gọi là Cầu Bèo (thuộc làng Bào Hậu, nay là xã Quỳnh Hậu) cách thị trấn Cầu Giát gần 3 km, khách sẽ thấy bên đường có một tấm biển có mũi tên chỉ ghi:- ''Nhà bia tưởng niệm nữ sĩ Hồ Xuân Hương 3 km". Nhà tưởng niệm đó được quỹ hợp tác phát triển văn hoá Thụy Điển - Việt Nam tài trợ xây dựng ngay địa đầu xã Quỳnh Đôi, phía dưới nhà thờ Quỳnh Quận công Hồ Phi Tích, phía trên khu mộ cụ Hồ Tùng Mậu và Anh hùng Cù Chính Lan.

Quỳnh Đôi! Không biết từ bao giờ còn truyền mãi đến nay câu ca: ''Bắc Hà, Hành Thiện, Hoan Diễn, Quỳnh Đôi".

Quỳnh Đôi là một làng ở phía bắc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, xưa là một vùng cây hoang, cỏ dại giáp sông Mai (gọi là sông Mõ), gần biển cửa Quèn là một trong ba cửa biển của huyện Quỳnh Lưu: Cửa Cờn (Càn), Cửa Quèn (Quyền), Cửa Thơi (Thai). Năm thứ II Xương Phù (1378) có 3 ông tổ họ Hồ, họ Nguyễn, họ Hoàng đến khai phá mà lập ra trang Thổ Đôi (xưa sử chép Quỳnh Đôi là Hoàn Hậu, thực ra Quỳnh Đôi là một thôn trong xã Hoàn Hậu). Tính đến nay Quỳnh Đôi đã có trên 600 năm tuổi. Theo thuyết phong thủy thì Quỳnh Đôi được đất ''địa linh nhân kìệt". Làng có một ngôi đình lớn trông về hướng Nam.Trước mặt là lèn Mục tức lèn Yên Ngựa (Mã Yên Sơn) sau lưng là lèn Tàn (Trụ Hải) trông như cái tàn che cho ngôi đình. Hai phía Đông, Tây là hai hòn lèn hình cái bảng chầu về (ở hai xã Quỳnh Hồng, Quỳnh Bảng). Xế đông nam là hai cột đá nhô lên như hai quản bút và một vũng đá giống cái nghiên mực gọi là Hòn Bút, Hòn Nghiên (ở làng Bút Luyện). Các nhà trí thức Tây học, Hán học như các ông: Nguyễn Thiệu Lâu, Vũ Tuấn Sán đã về nghiên cứu. Có phải vậy mà dân Quỳnh Đôi có truyền thống hiếu học, học giỏi, đỗ cao, làm quan to? Thời phong kiến thực dân nhiều gia đình nghèo phải đi mò cua, bắt ốc nhưng vẫn cố gắng cho con theo đòi nghiên bút ''Ăn mày lấy dăm ba chữ thánh hiền''. Quỳnh Đôi xưa chỉ có 2 nghề: đi học và dệt lụa, làm nghề nông ít vì ít ruộng.

Thời ấy Quỳnh Đôi có 531 sinh đồ (Tú tài), 203 hương cống (Cử nhân) với 958 lượt người đỗ 116 khoa thi hương trong đó có đến 13 giải nguyên như: Dương Cát Phủ, Hồ Sĩ Dương, Nguyễn Dương Dực, Phan Đình Phát... đỗ đại khoa thì có 4 phó bảng: Hồ Bá Ôn, Phan Duy Phổ, Hoàng Mậu, Lê Xuân Mai. Có 6 tiến sĩ: Hồ Sĩ Tân, Phan Hữu Tính, Hồ Sĩ Tuần, Văn Đức Giai, Nguyễn Sĩ Phẩm, Dương Thúc Hạp; 2 hoàng giáp: Hồ Phi Tích, Hồ Sĩ Đống; một thám hoa: Dương Cát Phủ; một bảng nhãn: Hồ Sĩ Dương.

Thời Pháp thuộc, người đỗ thủ khoa trường Đại học Luật khoa đầu tiên ở Đông Dương là Nguyễn Xuân Dương (sau này là chánh nhất toà thượng thẩm Bắc Bộ rồi chánh án Hà Nội). Người đỗ cử nhân Luật khoa cuối cùng thời đó là Phạm Đình Tân (sau này là chuyên viên cao cấp về pháp chế). Cả hai ông đều là người Quỳnh Đôi. Cũng trong thời kỳ này, người duy nhất trong cả nước được giải thưởng của Bảo Đại trong một kỳ thi đặc biệt (Concours général) là ông Nguyễn Đình Lương.

Sau Cách mạng Tháng 8-1945 đến nay xã Quỳnh Đôi ước tính có 500 người tốt nghiệp đại học, 23 thạc sĩ, 33 tiến sĩ như: Nguyễn Xuân Dũng, Phan Tam Đồng, Phan Cự Tiến, Hồ Đức Việt.. . 7 phó giáo sư: Văn Như Cương, Hồ Sĩ Giao, Hoàng Văn Lân, Dương Như Xuyên... 3 giáo sư: Phan Cự Nhân, Phan Cự Đệ, Phan Cự Tiến, 3 viện sĩ quốc tế: Nguyễn Xuân Dũng, Phan Cự Đệ, Phan Cự Tiến. Quỳnh Đôi vốn là một làng trọng nho cho nên ngày trước đường vào làng từ xã trên xuống được đắp như rắn lượn để sau các kỳ thi người đỗ đạt được rước xách đi quanh co cho đẹp. Như trên đã nói người Quỳnh Đôi nghèo nhưng hiếu học. Trường hợp ông Hồ Sĩ Dương là một thí dụ, nhà ông có bữa ăn rau dưa, có nhiều bữa nhịn nhưng ông bấm chí học hành. Ông đỗ đầu khoa thi Hương (1651), đỗ đầu khoa Đông Các (1659) ông là một trong 2 người Việt Nam một đỗ lưỡng quốc trạng nguyên (Mạc Đĩnh Chi) và một lưỡng quốc Đông Các là ông (tài liệu trong Long Cương Thư viện của thượng thư Cao Xuân Dục).

Về văn học Quỳnh Đôi có nhiều người nổi tiếng như: Hồ Sĩ Đống, Hồ Sĩ Dương, Hồ Xuân Hương, Phạm Đình Toái, Dương Quế Phổ.. . Sau Cách mạng Tháng 8, Quỳnh Đôi là quê hương của các nhà thơ Hoàng Trung Thông, Lam Giang, Hồ Phi Phục, Dương Quân, Sĩ Giang, Hồ văn Khuê (trào phúng), các nhà văn Hồ Anh Thái, Hồ Anh Tuấn, nhà nghiên cứu văn học Phan Cự Đệ, nhà sử học: Hoàng Thanh Đạm, hoạ sĩ: Hoàng Tuấn Nhã, Dương Viên, nhà hoạt động sân khấu Hồ Thi (Hồ Ngọc)... Với một truyền thống như vậy nên phong tục của Quỳnh Đôi cũng rất đáng nói. Dân Quỳnh Đôi thuần hậu nhưng không kém lịch lãm, biết nhẫn nhục nhưng cũng rất kiên cường, thẳng thắn tuy có lúc nóng nảy... Quỳnh Đôi là một xã có hương ước sớm và hương ước đó quy định cho Quỳnh Đôi xưa một nếp sống văn hoá đươc gìn giữ và phát huy cho đến ngày nay. Cho nên Quỳnh Đôi được Sở Văn hoá – Thông tin Nghệ An chứng nhận là "Làng văn hoá'', một trong những làng đầu tiên ở tỉnh Nghệ.

Song Quỳnh Đôi không chỉ là một "Làng Văn hoá''. Quỳnh Đôi còn được Nhà nước phong tặng là xã "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân'' nãm 1996. Dân Quỳnh Đôi không phải chỉ biết học để ''tiến vi quan, đạt vi sư" hay thoái thì ''vi chức'' (dệt), "vi canh'' (cày), ''vi tiều'' (đốn củi). Quỳnh Đôi có một truyền thống anh dũng bất khuất từ lâu đời, nối tiếp truyền thống yêu nước, thương nòi, ''thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ'' của dân tộc ta. Từ thế kỷ XV, người Quỳnh Đôi như các ông Hồ Hân, Trần Bá Đắc, Phan Hoàng Nhiễu đã có mặt ở cuộc khởi nghĩa. Lam Sơn, đứng dưới cờ Lê Lợi. Trong phong trào Tây Sơn, đã có các ông Hồ Phi Tứ, Phan Chí Tùy.. .gia nhập nghĩa quân. Hai chị em bà Nguyễn Thị Phát đã tự nguyện xuất tiền, xuất gạo nuôi quân Quang Trung. Khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, đa số sĩ phu, nhân dân Quỳnh Đôi đứng về phe chủ chiến. Tiêu biểu nhất là các cụ Văn Đức Giai, Dương Doãn Hài, Hồ Bá Ôn.. . Cụ nghè Giai đem quân vào tận Gia Định quyết chiến với giặc. Cụ án sát Nam Định Hồ Bá Ôn cùng đề đốc Lê Văn Điếm quyết tử chiếm giữ thành. Cụ bị đạn giặc bắn sổ ruột còn dùng dây lưng buộc bụng lại đánh đến cùng. Thời Cần Vương, sĩ phu Quỳnh Đôi như các ông Phan Duy Phổ, Hồ Trọng Miên... đều nhiệt liệt hưởng ứng.Tham gia khởi nghĩa chống Pháp có các cụ giải nguyên Nguyễn Quý Yêm bỏ quan theo Tống Duy Tân rồi bị Pháp bắt và xử tử nãm 1891 hay như cụ giải nguyên Dương Quế Phổ chống Pháp ở Quỳ Châu bị bắt giải về Vinh đã uống thuốc độc tự tử để giữ tròn danh tiết (1887). Cũng trong phong trào chống Pháp sau đó ít lâu nổi bật lên những gương mặt khí tiết của người Quỳnh Đôi như bà Lụa (Trần Thị Trâm), vợ ông Hồ Bá Trị, em ruột án sát Hồ Bá Ôn. Chồng bà hy sinh trong phong trào Cần Vương, bà ở vậy thờ chồng, nuôi con. Con bà chính là ông Hồ Học Lãm, một người yêu nước ở hải ngoại đã có công lao trong phong trào cách mạng của ta. Bà Lụa đã bôn ba từ Việt Nam sang Xiêm mua vũ khí cho nghĩa quân Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn... và làm liên lạc cho các chí sĩ cách mạng. Bà bị giặc bắt, dụ dỗ, tra tấn song không hé rãng một lời. Chồng bà là bà con ruột thịt với cụ Hồ Bá Kiện, thân sinh ra cụ Hồ Tùng Mậu. Cụ Hồ Bá Kiện hoạt động trong phong trào Duy Tân, bị bắt ở Sơn Tây đày đi Lao Bảo, tổ chức cướp nhà tù bại lộ, bị giặc Pháp bao vây khi rút vào rừng, cuối cùng giặc đã giết hại cụ. Thời Quang Phục hội, Tân Việt hay phong trào 30-31, Quỳnh Đôi đều có người tham gia. Có thể nói Quỳnh Đôi là cái nôi của cách mạng ở xứ Nghệ với các nhân vật nổi tiếng qua các thời kỳ như các ông Dương Ngọc Võ, Dương Văn Lan, Nguyễn Quý Thuyên, Hồ Mỹ Xuyên, Hồ Viết Thắng, Hồ Trọng Triêm, Nguyễn Như Huân... các cụ Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Chấn.. . Cũng ít thấy có một làng mà có đến bốn đại biểu Quốc hội trong cùng khoá, trong đó có hai anh em ruột: Hồ Anh Dũng, Hồ Đức Việt và hai chú cháu: Nguyễn An Vinh, Nguyễn Như Vĩ ... Cũng ở Quỳnh Đôi có hai Anh hùng chiến đấu và lao động: Cù Chính Lan, Hồ Thị Xinh. Ngoài ra Quỳnh Đôi còn cung cấp cho Nhà nước hiện nay hàng chục ngàn cán bộ chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật... Trong kháng chiến chống Pháp, giặc đã có lần đổ bộ lên Quỳnh Đôi đốt phá, cướp bóc. Quân dân Quỳnh Đôi đã anh dũng chống trả khiến bọn giặc phải rút lui. Trong chiến tranh chống Mỹ, quân dân Quỳnh Đôi cũng đã đóng góp không ít sức người, sức của. Những trung đội Bạch đầu quân của Quỳnh Đôi nổi tiếng là ''tuổi già, chí không già''. Những người con của Quỳnh Đôi đã ngã xuống trên khắp các chiến trường A, B, C, K không ít tô thêm cho trang sử vàng chiến đấu của Quỳnh Đôi.

Quỳnh Đôi còn có một vĩnh dự rất lớn là đã được cụ Phó bảng Sắc và con là Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) về thăm. Nay ở Quỳnh Đôi duy nhất còn có một ngôi nhà tranh được giữ làm lưu niệm, đó là ngôi nhà của cụ. cử Hồ Sĩ Tư (ông nội ông Hồ Viết Thắng), nơi cụ Phó bảng và con trai đã đặt chân đến.

Hoài Việt (Báo Văn nghệ )
Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#12 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:25:23

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Các nhạc sĩ quê hương Quỳnh Lưu

1/ Nhạc sĩ An Thuyên

Tên khai sinh là Nguyễn An Thuyên, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1949, quê tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Hiện là Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Nghệ thuật Quân đội. Uỷ viên Ban Chấp hành, Trưởng Ban Kiểm tra Hội Nhạc sĩ Việt Nam khoá V.


Ông công tác ở Ty Văn hoá Nghệ An từ năm 1967. Năm 1975, ông vào bộ đội. Năm 1977, ở Đoàn Văn công Quân khu IV. Từ năm 1981 đến năm 1988, ông tốt nghiệp, năm 1988 ông về Phòng Văn nghệ Quân đội và đến tháng 8 năm 1992, ông về công tác ở Trường Nghệ thuật Quân đội cho đến nay.

An Thuyên sáng tác ca khúc khá đều đặn và đều tay. Nhiều tác phẩm có chất lượng tốt và đã có sức lan toả rộng như: Em chọn lối này, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác, Hành quân lên Tây Bắc, Khi xe tăng qua miền Quan họ, Thơ tình của núi, Chín bậc tình yêu, Huế thương, Neo đậu bến quê, Mẹ Việt Nam anh hùng, Ca dao em và tôi...


Tên khai sinh là Nguyễn An Thuyên, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1949, quê tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Hiện là Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Nghệ thuật Quân đội. Uỷ viên Ban Chấp hành, Trưởng Ban Kiểm tra Hội Nhạc sĩ Việt Nam khoá V.


Ông công tác ở Ty Văn hoá Nghệ An từ năm 1967. Năm 1975, ông vào bộ đội. Năm 1977, ở Đoàn Văn công Quân khu IV. Từ năm 1981 đến năm 1988, ông tốt nghiệp, năm 1988 ông về Phòng Văn nghệ Quân đội và đến tháng 8 năm 1992, ông về công tác ở Trường Nghệ thuật Quân đội cho đến nay.

An Thuyên sáng tác ca khúc khá đều đặn và đều tay. Nhiều tác phẩm có chất lượng tốt và đã có sức lan toả rộng như: Em chọn lối này, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác, Hành quân lên Tây Bắc, Khi xe tăng qua miền Quan họ, Thơ tình của núi, Chín bậc tình yêu, Huế thương, Neo đậu bến quê, Mẹ Việt Nam anh hùng, Ca dao em và tôi...

Ông còn viết một số kịch hát đã được dàn dựng ở nhiều Đoàn Văn công như Trương Chi, Đôi đũa kim giao, Biển tình cay đắng. Ngoài ra, ông còn sáng tác cho khí nhạc, đáng chú ý có Concerto cho flute và dàn nhạc giao hưởng. Ông còn viết nhạc cho phim và viết phần âm nhạc cho khoảng 60 vở kịch nói, tuồng, chèo...

Các giải thưởng: Giải Nhất cuộc thi ca khúc toàn quốc năm 1985: Tiếng đàn balalaica trên sông Đà (phỏng thơ Quang Huy); Giải thưởng chính thức của Bộ Quốc phòng: Hành quân lên Tây Bắc (1984), Thơ tình của núi (1994); Giải Nhất của Bộ Văn hoá - Thông tin và Hội Nhạc sĩ Việt Nam: Khi xe tăng qua miền Quan họ (1985), Mẹ Việt Nam anh hùng (1995); Giải Nhì Hội Nhạc sĩ Việt Nam: Chín bậc tình yêu (1992).

(Trích từ http://www.anthuyen.com/index.php?ac...=23&id_news=18)
__________________

2/ Nhạc sĩ Hồ Hữu Thới

Nhạc sĩ Hồ Hữu Thới say mê âm nhạc từ nhỏ. Sinh ra ở nông thôn Quỳnh Lưu, lớn lên trên lưng trâu thổi sáo tự làm lấy bằng ống nứa trong bó củi rừng mẹ mua về đun bếp. Một cuộc thi tuyển ở xã, ông đã trúng tuyển vào trường Âm nhạc. Thế là khăn gói quả mướp đi bộ dưới đạn bom ra thủ đô học tập. Những năm chiến tranh, trường sơ tán, ông có tên trong danh sách đi du học nước ngoài, nhưng đã tình nguyện ở lại, đi vào vùng tuyến lửa thâm nhập thực tế, sáng tác những bài hát về quê hương. Tốt nghiệp đại học âm nhạc khoa sáng tác, Hồ Hữu Thới không ở lại trường mà xin về xứ Nghệ công tác. Ông trở thành cán bộ của Ty Văn Hóa Nghệ An, phó hiệu trưởng trường Văn Hóa Nghệ thuật Nghệ Tĩnh và hai khóa liền là ủy viên BCH tỉnh ủy, 15 năm liền làm Giám đốc Sở Văn Hóa Thông Tin Nghệ An. Làm một nhà quản lý văn hóa ở một tỉnh đất rộng người đông trăm công nghìn việc, vậy mà ông vẫn lặng lẽ sáng tác cả một khối lượng tác phẩm thật đáng nể: viết hàng trăm ca khúc và soạn nhạc cho hàng chục vở diễn sân khấu từ kịch dân ca, kịch cải lương, kịch chèo, đến kịch nói, kịch hát... và ngành văn hóa thông tin Nghệ An nhiều năm là lá cờ đầu văn hóa cả nước, được tặng Cờ luân lưu của Chính phủ. Con người quản lý và con người nghệ sĩ tưởng khó chung sống với nhau, lại hóa ra rất hòa thuận trong anh. Nhạc sĩ Trần Hoàn hồi còn là Bộ trưởng Bộ VHTT có lần nhận xét về Hồ Hữu Thới như sau Chất nghệ sĩ đã kích thích Hồ Hữu Thới có nhiều sáng tạo trong công tác quản lý, trở thành một giám đốc giỏi của toàn ngành văn hóa, ngược lại, con người quản lý cũng hỗ trợ rất nhiều cho tầm nhìn xa rộng của người nghệ sĩ trong tác phẩm mà ông dâng hiến cho đời. Hồ Hữu Thới không phải là trường hợp duy nhất, nhưng cũng không phải là nhiều.
Hồ Hữu Thới là người nhạc sĩ viết ca khúc bằng tư duy khí nhạc. Khác với những nhạc sĩ sáng tác bằng cảm xúc bản năng, đi lên từ phong trào quần chúng, Hồ Hữu Thới được đào tạo âm nhạc có hệ thống ngay từ đầu. Hơn 10 năm học ở trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Nhạc viện Hà Nội), ông đã có một hành trang đầy đặn về kiến thức âm nhạc Đông Tây, dân gian, bác học để đi vào cuộc sống. Và ông đã lựa chọn con đường trở về xứ Nghệ để trở thành một nhạc sĩ ở ngay trên quê hương mình.

Hàng trăm ca khúc của ông khai thác chất liệu dân ca quê hương theo cách của riêng . Ông cũng là một trong những người chủ trương cuộc thể nghiệm đưa dân ca xứ Nghệ lên sân khấu kịch hát, và đã gặt hái được nhiều thành công mà đỉnh cao là vở Mai Thúc Loan đoạt huy chương vàng liên hoan sân khấu toàn quốc. Ngay cả khi viết nhạc cho kịch nói hay nhạc múa, Hồ Hữu Thới cũng không quên thổi hồn Nghệ vào những giai điệu thẳm sâu trí tuệ hoặc bay bổng trữ tình. Có thể nói, dân ca Nghệ, tâm hồn Nghệ như một thứ “ma túy tinh thần” thấm đẫm vào máu thịt để làm nên con người âm nhạc có tên là Hồ Hữu Thới.

Suốt thập niên 80 của thế kỷ trước, ca khúc Câu hát quê hương của nhạc sĩ là bản nhạc nằm lòng của người xứ Nghệ, nó không bao giờ thiếu vắng trong các liên hoan, hội diễn văn nghệ cũng như trong đời sống thường nhật của nhân dân. Nó theo các đoàn nghệ thuật đến với công chúng cả nước và gây xúc động lòng người, đặc biệt là người Nghệ xa quê. Một ca sĩ của đoàn nghệ thuật Nghệ Tĩnh kể rằng, khi hát bài này cho dân xứ Nghệ ở vùng kinh tế mới Đăk Lăk, nhiều người nghe đã không cầm được nước mắt và yêu cầu ông hát lại nhiều lần rồi chép lại để hát. Đây là một ca khúc có nhiều sáng tạo trong cấu trúc và tiến hành giai điệu mới mẻ mà nhuần nhuyễn. Nó làm mới dân ca xứ Nghệ, hay nói đúng hơn là Hồ Hữu Thới đã sáng tạo ra một bài dân ca mới của thời hiện đại, động tới tâm can của người Nghệ:
Người ơi, thương nhau nhớ lời đã hò hẹn
Càng thương nhau nhớ gừng cay muối mặn
Câu ca ân tình trên sóng nước long lanh bao cuộc đời
Câu ca bây giờ nghe vẫn mới: Thương nhau xin nhớ đừng quên..

Cũng là chất Nghệ đó, nhưng mỗi bài mỗi vẻ riêng. Cùng viết về biển Cửa Lò thì Xôn xao trời nước quê mình xốn xang nỗi nhớ những con tàu vượt trùng dương, còn Giọng hò trên biển quê hương lại rộn ràng nhịp sống lao động tin yêu. Cùng viết về Nam Đàn quê Bác thì Ở làng Sen giàu chất tự sự sâu lắng, còn Hội làng bên sông Lam lại tưng bừng nhịp trống hội vang xa. Với Tiếng hát người bảo vệ rừng và Ở rừng cuộc sống tôi yêu, là hai màu sắc cảm xúc và hai phong cách khác biệt nhau. Nhiều bài hát về Vinh, nhiều bài hát viết về mẹ, và đặc biệt là chùm bài hát viết về Bác Hồ thể hiện tính đa dạng phong phú về cảm xúc và tư duy của người nhạc sĩ luôn trăn trở, tìm tòi, khám phá bản thân mình cũng như khám phá đời sống luôn biến động chung quanh. Mảng đề tài về quê hương xứ Nghệ ngày càng sâu nặng với Hồ Hữu Thới, và ông vẫn tiếp tục tạo thêm những dấu ấn mới trong hành trình âm nhạc của mình với những ca khúc Quê hương ngày ấy Bác về, Ân tình xứ Nghệ, v.v...
Nhưng không chỉ viết về xứ Nghệ, Hồ Hữu Thới luôn tìm cách mở rộng đề tài và chất liệu âm nhạc trong một loạt sáng tác dọc những chuyến đi của ông. Những ca khúc “mở rộng” này thường có cảm xúc tươi tắn của người đi tới vùng “đất lạ”. Về Cao Bằng “bồi hồi nhớ ngày Bác về ở bên suối Lê Nin”, đến Huế để lại câu thơ cho Sông Hương bến đợi, vào Đồng Tháp Về thăm Xẻo Quýt “gặp em gái năm xưa đánh giặc vẫn còn đây”, thăm Sài Gòn thấy Xôn xao bến cảng Nhà Rồng nơi Bác ra đi “tìm hình của Nước”, ghé Trường Sơn thắp nén hương cho Đồng đội và đi trong Chiều mưa Trường Sơn “anh thấy thời gian dừng lại”, gọi Tây Nguyên ơi hãy nổi trống lên để ngợi ca muôn đời hồ Lăk tươi xanh, và, giữa thủ đô anh cùng Hồ Xuân Hùng chợt thấy: Nếu Hà Nội không có mùa Đông “chắc lá bàng không rơi đầy lối ngõ”. Đi xa hơn nữa, Hồ Hữu Thới đã gửi hồn mình vào Tình Việt Lào rộn rã nhịp Lăm vông, và gieo tiếng đàn xao xuyến trong Chiều Vôn Ga da diết trữ tình. Hồ Hữu Thới đôi lúc cố gắng trẻ hóa âm nhạc của mình trong Khi ta là sinh viên, Con gái, Vui tết cùng lính đảo... Trong cuộc hành trình âm nhạc đời người, ông còn nhiều lần mở rộng hình thức để tiếp cận những tâm trạng đầy kịch tính của con người qua các aria trong kịch hát hoặc những ca khúc tô đậm chủ đề của những vở kịch mà anh soạn nhạc: Kể chuyện đời tôi, Hỡi gió, Sao chàng sai hẹn, Kể chuyện nàng Bích Châu, Nỗi đau của ông, v.v...

Hơn bốn chục năm cống hiến cho đời, Hồ Hữu Thới có vui và có buồn. Niềm vui dấn thân, nỗi buồn cả nể. Âu cũng là thiên tính của người nghệ sĩ đó thôi. Nhưng ngoái lại chứ không phải dừng lại. Ngoái lại để lắng lại, để vững tâm hơn trên con đường đi tới. Bởi Hồ Hữu Thới là người hướng nội, người biết lặng lẽ nuôi lớn khát vọng từ nguồn sữa quê hương như chính anh đã từng tâm niệm:
Tôi lặng lẽ đi tìm câu hát
Tìm cái nửa cho riêng tôi
Tìm câu hát cuộc đời.
Tôi đi tìm
Suốt chiều dài câu ví dặm
Tôi đi tìm
Suốt chiều rộng câu dân ca.
Tôi khát khao làm mới câu ví điệu hò xứ sở
Để cuộc đời mãi mãi là bài ca...

(bài viết này dựa theo ý bài viết của nhà thơ-nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo)


3/nhạc sĩ Ánh Dương
Tên khai sinh của ông là Lê Văn Dương, sinh ngày 12 tháng 1 năm 1935. Quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Tốt nghiệp Đại học Sáng tác Nhạc viện Hà Nội. Nguyên Trưởng đoàn Văn công Quân khu 4. Đã nghỉ hưu.

Ông bắt đầu hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp tại Đoàn Văn công Đại đoàn 325, vừa biểu diễn vừa sáng tác. Thời kỳ này ông đã viết một số ca khúc như Tạm biệt em, Tiếng trống tòng quân... Chuyển về Đoàn Văn công Quân khu 4, ông đã góp cho đơn vị nhiều tiết mục được tặng giải thưởng trong các hội diễn toàn miền Bắc thời đó (các hợp ca, hợp xướng): Dốc lòng dốc sức giải phóng miền Nam, Hoa đào nở trên biên giới, Phu Cham Xy...

Những ca khúc O dân quân và chàng lính pháo trẻ, Hành khúc Sư đoàn Sông Lam (Giải thưởng Hội diễn Ca múa nhạc toàn quốc), đặc biệt bài hát Chào em cô gái Lam Hồng, là những thành công đáng kể của ông.

Ngoài ra, ông còn viết thơ giao hưởng Tượng đài chiến thắng (1979) cho dàn nhạc hơi (Huy chương vàng Hội diễn toàn quốc, 1980), ballade cho giọng hát và dàn nhạc Hồi tưởng một đêm về Bác (dựa theo thơ Minh Huệ), nhạc cho múa (Múa Tày Hạy, giải thưởng Hội diễn năm 1981) và nhạc cho dân ca kịch Liên khu V.

Đã xuất bản Tuyển chọn ca khúc Ánh Dương kèm băng cassette (Dihavina và Hội Nhạc sĩ Việt Nam, 1995).

(Trích “Nhạc sĩ Việt Nam hiện đại” - Hội Nhạc sĩ Việt Nam)
Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#13 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:28:07

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Các nhà thơ, nhà văn của quê hương Quỳnh Lưu

1/ Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương (chữ Hán: 胡春香) là nhà thơ Nôm nổi tiếng sống vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Bà đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ 18, nửa đầu thế kỷ 19.

Tiểu sử: Tiểu sử của Hồ Xuân Hương đến nay vẫn còn nhiều điểm gây tranh cãi. Thậm chí có một vài ý kiến còn cho rằng những bài thơ được xem là của Hồ Xuân Hương hiện nay do nhiều người sáng tác, nghĩa là không có ai thực sự là Hồ Xuân Hương. Dựa vào một số tài liệu lưu truyền, những bài thơ được khẳng định là của Hồ Xuân Hương, các nhà nghiên cứu đã tạm thừa nhận một số kết luận bước đầu về tiểu sử của nữ sĩ:

Hồ Xuân Hương thuộc dòng dõi họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đây là một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan nhưng đến đời Hồ Phi Diễn - thân sinh của bà - thì dòng họ này đã suy tàn.
Bà sống vào thời kỳ cuối nhà Lê, đầu nhà Nguyễn, tức cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Do đó bà có điều kiện tiếp thu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh của quần chúng và chứng kiến tận mắt sự đổ nát của nhà nước phong kiến.
Bà xuất thân trong một gia đình phong kiến suy tàn, song hoàn cảnh cuộc sống đã giúp nữ sĩ có điều kiện sống gần gũi với quần chúng lao động nghèo, lăn lộn và tiếp xúc nhiều với những người phụ nữ bị áp bức trong xã hội.
Hồ Xuân Hương ít chịu ảnh hưởng của Nho giáo về mặt nhân sinh quan cũng như về phương diện văn chương.
Bà là một phụ nữ thông minh, có học nhưng học hành cũng không được nhiều lắm, bà giao du rộng rãi với bạn bè nhất là đối với những bạn bè ở làng thơ văn, các nhà nho. Nữ sĩ còn là người từng đi du lãm nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước.
Là một phụ nữ tài hoa có cá tính mạnh mẽ nhưng đời tư lại có nhiều bất hạnh. Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn mà đến hai lần đi lấy chồng, hai lần đều làm lẽ, cả hai đều ngắn ngủi và không có hạnh phúc. (Nhưng theo tài liệu của GS Hoàng Xuân Hãn và ông Lê Xuân Giáo thì nữ sĩ có tới 3 đời chồng chứ không phải hai: Tổng Cóc, Ông Phủ Vĩnh – tường, và cuối cùng là quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiến).
Có thể thấy Hồ Xuân Hương không phải là một phụ nữ bình thường của thời phong kiến mà bà đã có một cuộc sống đầy sóng gió.

Các tác phẩm: Các tác phẩm của bà đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ yếu là những bài thơ chữ Nôm truyền miệng.

Năm 1962, ông Trần Văn Giáp đã công bố 5 bài thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương trên báo Văn nghệ viết về vịnh Hạ Long. Đến năm 1983, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã dịch và đặt tên cho 5 bài thơ này (bao gồm: Độ Hoa Phong, Hải ốc trù, Nhãn phóng thanh, Trạo ca thanh, Thuỷ vân hương) và công bố trong bài Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long, đăng trên tập san Khoa học xã hội, tại Paris vào năm 1984.

Năm 1964, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại phát hiện một tập thơ nữa tên là Lưu hương ký 琉香記, theo những nghiên cứu đến nay nhiều người tán thành rằng những bài thơ trong đó là của Hồ Xuân Hương.
__________________

2/ Nguyễn Minh Châu (nhà văn)

Nguyễn Minh Châu (20 tháng 10 năm 1930 - 23 tháng 1 năm 1989) là một nhà văn có ảnh hưởng quan trọng đối với văn học Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam và thời kỳ đầu của đổi mới.

Tiểu sử: Nguyễn Minh Châu sinh năm 1930, quê ở làng Thai, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành chung. Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại Hà Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sỹ quan Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972.

Nguyễn Minh Châu qua đời ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội, thọ 59 tuổi.

Các tác phẩm chính: Cửa sông (tiểu thuyết, 1966)
Những vùng trời khác nhau (truyện ngắn, 1970)
Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972)
Miền cháy (tiểu thuyết, 1977)
Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977)
Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982)
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (truyện ngắn, 1983)
Bến quê (truyện ngắn, 1985)
Mảnh dất tình yêu (tiểu thuyết, 1987)
Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ (1987)
Cỏ lau (truyện vừa, 1989).
Nguyễn Minh Châu toàn tập (NXB Văn Học, 2001)


Giải thưởng: Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật vào năm 2000
Tác phẩm Cỏ lau đạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam vào năm 1990
Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng 1984 - 1989 cho toàn bộ sáng tác của Nguyễn Minh Châu viết về chiến tranh và người lính
__________________

3/ Hoàng Trung Thông

Nhà thơ Hoàng Trung Thông (1925-1993) (còn có những bút danh khác như Đặc Công, Bút Châm) quê quán xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nguyên là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Viện trưởng Viện Văn học (Việt Nam).

Quá trình công tác: Hoàng Trung Thông tham gia cách mạng từ trước 1945 trong phong trào Việt Minh, từng đảm nhiệm các chức trách: cán bộ văn nghệ của khu ủy Liên khu IV, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Nghệ An, ủy viên Tiểu ban Văn nghệ Trung ương; thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam; tổng biên tập báo Văn nghệ, báo Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam; Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, Vụ trưởng Vụ Văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương; Viện trưởng Viện Văn học (1976-1985).

Những tác phẩm chính: Tiểu luận phê bình
Chặng đường mới của văn học chúng ta (1961)
Cuộc sống thơ và thơ cuộc sống (1979) 

Thơ
Quê hương chiến đấu (1955)
Đường chúng ta đi (1960)
Những cánh buồm (1964)
Đầu sóng (1968)
Trong gió lửa (1971)
Như đi trong mơ (1977)
Chiến công tuổi thơ (1983)
__________________


4/ Bùi Hiển

Bùi Hiển (sinh ngày 22 tháng 11 năm 1919) là một nhà văn Việt Nam, từng tham gia cộng tác với nhóm Tự Lực văn đoàn. Ông nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam với tác phẩm Nằm vạ (1941) khi mới 22 tuổi.

Tiểu sử: Ông sinh tại làng Phú Nghĩa Hạ, xã Tiến Thủy, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Vốn sinh trưởng trong một gia đình khá giả, ông sớm được tiếp xúc với văn hóa Pháp, chịu ảnh hưởng nhiều của nhóm Tự Lực văn đoàn. Khởi đầu sự nghiệp văn chương, ông đăng các truyện ngắn trên tạp chí Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan như Nằm vạ (1940), Mạ đậu (1940), Chiều sương (1 tháng 3 năm 1941), Thuốc độc (24 tháng 4 năm 1941).... Năm 1941, ông cho xuất bản tập truyện ngắn "Nằm vạ" (Nhà xuất bản Đời nay, Hà Nội). Tập truyện ngắn nhanh chóng nổi tiếng, đặc biệt với truyện ngắn cùng tên.

Năm 1944, ông tham gia cách mạng. Theo lời ông kể thì "Khoảng cuối năm 1944, qua sự giới thiệu của một anh bạn công chức, tôi gia nhập Thanh niên cứu quốc bí mật. (Tô Hoài trong bài nào đó nhớ nhầm là tôi vào Ðảng Dân chủ). Một trong những "công tác cách mạng" đầu tiên là sắm một con dao găm. Nhưng cũng chẳng được luyện tập võ nghệ gì. Và cũng không thấy ai đến tuyên truyền huấn luyện về chính trị. Chỉ thỉnh thoảng một cuộc họp ngắn và bí mật, truyền đạt tin tức về khí thế Việt Minh ở các nơi và nhắc nhở việc sẵn sàng "chiến đấu hi sinh cứu nước"".

Trong suốt giai đoạn 1945 đến 1960, ông tham gia công tác văn nghệ, từng giữ chức vụ chủ tịch Hội văn nghệ tỉnh Nghệ An, nhưng ít sáng tác, một phần thời gian dành cho công tác dịch thuật.

Năm 1956, ông giới thiệu tuyển tập truyện ngắn, dịch của Antonov. năm 1957, ông gia nhập Hội nhà văn và giữ cương vị Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam liên tục các khóa I (1958-1961), II (1962-1972), III (1973-1982).

Năm 1975, ông là trưởng đoàn Hội nhà văn theo chân Quân giải phóng vào Huế và Đà Nẵng. Tuy nhiên, khi vào Huế, ông đã chấp thuận giải tán đoàn để các văn nghệ sĩ có thể tự vào sâu hơn.

Sau 1975, ông tiếp tục công tác trong Hội nhà văn Việt Nam và giữ chức chủ tịch Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV.

Một số tác phẩm tiêu biểu: Nằm vạ (truyện ngắn, 1940)
Mạ đậu (truyện ngắn, 1940)
Chiều sương (truyện ngắn, 1941)
Thuốc độc (truyện ngắn,1941)
Nằm vạ (tập truyện ngắn, 1941)
Tuyển tập truyện ngắn, Antonov (dịch, 1956)
Ánh mắt (truyện, 1961)
Trong gió cát (truyện ký, 1965)
Đường lớn (truyện, 1966)
Những tiếng hát hậu phương (truyện, 1970)
Hoa và thép (truyện, 1972)
Một cuộc đời (truyện, 1976)
Ý nghĩ ban mai (truyện, 1980)
Tâm tưởng (truyện, 1985)
Ngơ ngẩn mùa xuân (truyện, NXB Đồng Nai, 1995)
Hai mươi lăm truyện ngắn 1940 - 1995 (1996)
Tuyển tập Bùi Hiển (tập I, 1987; Tập II, 1997)
Hướng về đâu văn học (tiểu luận, 1996)
Những người yêu nữ thần biển, nhiều tác giả (dịch, 1993)
Những truyện ngắn phương Đông, Marqueritte Gourcenar (dịch, 1996)
Bản di chúc Pháp, Andrei Makine (dịch, 1998)


Nhận xét: Trong "Lược sử Văn học Việt Nam", nhà nghiên cứu Thế Phong đã nhận định về truyện ngắn trước 1945 của Bùi Hiển như sau:

"Truyện ngắn trước tiền chiến của ông có tính cách địa phương, viết rặt hình ảnh quê hương nơi ông sinh trưởng, cho nên Vũ Ngọc Phan cho rằng đọc Nằm vạ của Bùi Hiển âm hưởng như Eugène Roy của Pháp, tả người dân quê miền Nantes, những nét đậm đà như Chateaubriand viết La Brière hoặc Joseph de Pesquidoux trong Chez nous sur la glèbe."[3]
Năm 1958, ông viết truyện ngắn "Ngày công đầu tiên của cu Tí" để cổ vũ cho phong trào hợp tác xã. Truyện ngắn này được sử dụng trong giáo trình văn học phổ thông tại miền Bác và cả nước Việt Nam trong nhiều năm.

5/ Tú Mỡ (1900-1976)

Tiểu sử: Tú Mỡ tên thật Hồ Trọng Hiếu, sinh ngày 14.3.1900 tại phố Hàng Hòm, Hà Nội. Quê gốc của ông là ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Lên 5 tuổi, ông bắt đầu học chữ Nho, học hết bộ Tam tự kinh thì bố ông mới cho học chữ quốc ngữ. Ông từng là học trò trường Đông kinh Nghĩa thục phố Hàng Đào. Năm 14 tuổi, ông đỗ đầu bằng sơ học Pháp - Việt và được học tại trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An). Năm 18 tuổi, ông đỗ bằng Thành Chung và xin được làm thư ký, chủ sự kế toán Sở Tài chính. Trong Hồi ký văn học, ông kể lại: "Lúc này tôi quyết tâm học làm thơ. Trước hết tôi mua bộ Hán - Việt văn khảo để nghiên cứu các thể thơ ca, từ, phú, rồi mua những tập thơ của Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Yên Đổ, Tản Đà, Trần Tuấn Khải, những tác phẩm mà tôi thích đọc nhất".

Nhà báo Nguyễn Thụy Kha viết:

Lúc ấy, tuy có viết thơ vui in trong tập kỷ yếu "Việt Nam thanh niên Hội" với cái tên Lý Toét, nhưng ông chưa được mấy ai để ý. Đến năm 1932, khi "Tự lực văn đoàn" mở ra mục "Dòng nước ngược" thì Lý Toét có thêm bạn... Tú Mỡ. Ông lấy bút danh Tú Mỡ cũng từ phiên bản Tú Xương, mặc dù vóc dáng ông gày nhom.

Thơ Tú Mỡ xuất hiện dày trên “Phong Hóa”, “Ngày nay” và trước cách mạng 1945 ông đã xuất bản hai tập "Dòng nước ngược". Ông đã được mệnh danh là "vua trào phúng" từ hồi đó. "Vua trào phúng" có đặc điểm khác người là thường mặc áo the tàng, đi giày mõm nhái và đội một cái mũ dứa có quai lụa thắt dưới cằm.

Trên mũ sơn vòng có ba chữ nho ghi tên "Hồ Trọng Hiếu". Còn xe đạp của ông thì gắn hẳn một cái còi xe hơi bấm bí bom ầm ĩ khi gặp đám đông. Đúng là xe của "vua trào phúng".

Theo kháng chiến lên Việt Bắc, Tú Mỡ còn có bút danh là Bút Chiến Đấu. Những năm ấy, Tú Mỡ vẫn chuyên với giọng thơ trào phúng với các tập "Địch vận diễn ca", "Nụ cười kháng chiến", giễu cợt cay độc tướng Đờlát Đờ Tátxinhi và nhiều tướng giặc khác.

Giọng thơ trào phúng Tú Mỡ lại tiếp tục đóng góp trong đấu tranh thống nhất với những tập thơ "Nụ cười chính nghĩa", "Bút chiến đấu", "Đòn bút". Những ngày đánh Mỹ, nhà Tú Mỡ ở nơi có nhiều ụ pháo cao xạ, ông không muốn đi sơ tán mà muốn ở nhà mục kích pháo ta bắn máy bay Mỹ để làm thơ.

Một chiếc máy bay bị rơi trong bụi chuối gần nhà đã được ông "chôn" bằng một bài thơ chơi chữ giữa "cây chuối" và "ăn củ chuối của ông đây này".

...

Tú Mỡ từng là Phó Chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa I và khóa II). Ông là nhà thơ trào phúng duy nhất được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt II năm 2000). Sinh thời ông là nhà thơ đầu tiên được tặng huân chương vào năm 1952 và từng đoạt nhiều giải thưởng như:

Giải nhất về thơ ca của Hội Văn nghệ Việt Nam (1951).
Giải nhì về thơ ca của Hội Văn nghệ Việt Nam (1956).

Ông mất ngày 13.7.1976 tại Hà Nội. Hiện nay tp Hà Nội có khu lưu niệm Tú Mỡ và TP Hồ Chí minh thì có một con đường mang tên ông. Năm 2003 Trung tâm lưu trữ Quốc gia III đã trân trọng tiếp nhận khối tài liệu lưu trữ cá nhân của nhà thơ Tú Mỡ do gia đình nhà thơ trao tặng.

Phần lớn sáng tác của Tú Mỡ đã được tập hợp trong “Tú Mỡ toàn tập” với số lượng 4 tập và khoảng 3000 trang in do Nhà Xuất bản văn học xuất bản năm 1996.

Tác phẩm chọn lọc:
Dòng nước ngược (2 tập, 1943);
Địch vận diễn ca (1949);
Nụ cười kháng chiến (thơ trào phúng, 1952 );
Tấm Cám (truyện thơ, 1955);
Nụ cười chính nghĩa (thơ trào phúng, 1958);
Bút chiến đấu (thơ trào phúng, 1960);
Đòn bút (thơ trào phúng, 1962);
Ông và cháu (thơ, 1970 );
Thơ Tú Mỡ (thơ truyện, 1971).


Họa sĩ tranh vui Hồ Trọng Hiếu
Theo Vũ Thư Hữu, trong bộ báo của Hội Sinh Viên Annam [1] mà tờ số 1 được xuất bản ngày 15.7.1923, có một chàng trai thường vẽ nhiều bức tranh biếm hoạ khá đẹp và mang nặng tính giáo dục. Những bản vẽ đó đều có chú giải được in song ngữ bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và đều mang chữ ký Hồ Trọng Hiếu.

(nguồn http://dongtac.net/spip.php?article1782)
Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#14 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:30:58

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Đền vua Hồ ở Bàu Đột (Quỳnh Lâm-Quỳnh Lưu)

QuynhLuu Cập nhật 01/06/2006)


Đền đã bị phá hoàn toàn. Nơi trước đây không lâu là một ngôi đền bề thế thì nay chỉ là một đám cỏ xanh.Đền nằm trên hòn Rồng, bên trái là núi Ngọc, bên phải là hòn Rết, cả 3 hòn này đều nằm trong dãy núi Y Sao. Đó là thế núi “long ngai”. Trước cửa đền là đồng Cửa Đền rồi đến các hòn Ô, hòn Phượng, hòn Đầm.

Theo các cụ già địa phương đề làm theo kiểu nội công ngoại quốc, nghĩa là trong thì làm theo chữ công, ngoài thì theo quốc. Đó là kiểu kiến trúc đền thờ thường thấy ở nhiêu nơi.
Du khách đến thăm đền, qua cửa tam quan và một sân rộng là tòa chính diện 5 gian. Sau tòa chính diện là một cái sân nhỏ, hai bên có tả vu hữu vu. Đi hết sân này là tòa trung điện ba gian hai hồi. Sau tòa trung điện là cái nhà cầu nối giữa trung điện với hậu cung hay còn gọi là chính điện. Hậu cung 3 gian nhỏ. Cả ba tòa đều có nhiều mảng trang trí trên các quá giang, xà, cốn, rường, bẩy, ván nong, cổ nghé, v.v...
Sân ngoài, góc bên trái là miếu thờ Thái Dương công chúa, rồi vào voi đá, ngựa đá, rồng đá, bia đá, …Bao quanh đều là một bức tường đá cao khoảng 1,20m.

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#15 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:32:03

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Đền Cờn ở Phương Cần ở huyện Quỳnh Lưu

Đền Cờn ở Phương Cần
(QuynhLuu Cập nhật 01/06/2006)

Nghệ Tĩnh có 4 đền: “đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trung” được coi là linh thiêng, có qui mô kiến trúc bề thế, có nhiều mảng trang trí nghệ thuật thì đền Cờn đứng đầu. Đền Cờn như ta đã biết thờ Tứ Vị thánh nương, nữ thần bảo vệ, phù hộ những người làm ăn trên sông nước, đã từng ngầm giúp quân đội nhà Trần rồi nhà Lê vượt biển bình an, chiến thắng Chiêm Thành.

Đến đời Trần Nhân Tông, đạo Phật ở nước ta đã bước vào giai đoạn cực thịnh. Chùa chiền mọc lên khắp nơi, từ Kinh đô đến thôn xóm, từ đồng bằng đến trung du và các miền ven biển. Ngay bản thân nhà vua, sau hai lần lãnh đạo kháng chiến chống giặc Nguyên thắng lợi, vào các năm 1285 và 1292, cũng nhường ngôi lại cho con, rồi xuống tóc đi tu, trở thành vị Tổ thứ nhất của phái Tu thiền Trúc lâm với pháp danh Điều Ngự. Số người tu hành của thời đó rất đông. Nhiều người xuất gia từ bé, nhưng nhiều người đã từng lập gia đình rồi do trắc trở nhân duyên, nên mới tìm đến cửa Phật. Trong trường hợp ngược lại, nhiều vị tu hành nhưng do những hoàn cảnh đặt biệt nào đó đưa đẩy, đã hoàn tục trở lại, thì điều ấy, xét ra cũng là lẽ thường tình mà nhà sư trụ trì ở ngôi chùa cửa Cờn là một ví dụ.
Thuở ấy ở xã Hương Cần thuôïc Quỳnh Lưu (Nghệ An) bây giờ, có một ngôi chùa dựng trên một hòn đảo nhỏ ở cửa Cờn. Tiếng là chùa nhưng kiến trúc còn đơn sơ, chỉ là ngôi nhà lá ba gian ở khuất hướng gió biển và bên trong đặt vài pho tượng Phật. Trụ trì trong chùa là một vị sư ông ở độ tuổi ngoài bốn mươi và một chú tiểu nhỏ giúp việc. Hai thầy trò tình nguyện ra đây, vừa tu hành nhưng cũng để vừa giúp đỡ những người đi biển gặp nạn vì đảo cũng thường xuyên là nơi tránh bão của dân chài.
Nhà sư vốn xuât thân là một nho sinh, đã từng liều chõng đến trường thi, nhưng do không đỗ lại gia cảnh sa sút nên cũng đành xếp bút nghiên, để gởi mình vào cửa Phật. Ở nơi đảo vắng, quanh năm chỉ nghe tiếng sóng vỗ bờ, lương thực chính yếu do dân chài ghé qua cung cấp, tưởng cũng là nơi tốt nhất để có thể dứt bỏ bụi trần một cách thực hiệu nghiệm. Vừa tu luyện vừa năng giúp người cứu người, quả là một điều kiện lý tưởng cho một vị tu hành muốn mau đắc đạo. Nào ngờ sự đời cũng thật lắm nỗi éo le, không thể lường trước được. Khi mà nhà sư đang còn là một con người khang kiện, buổi thiếu thời đã từng xây dựng nhiều mộng ước đẹp cho tương lai, thì việc có bị 'nhuốm' lại bụi trần, âu cũng là điều cần được thể tất, như ở phần sau này sẽ rõ.
Thời ấy ở Trung Hoa, nhà Kim sau khi diệt xong nhà Bắc Tống liền cho viên tướng là Trương Hồng Phạm đi đánh úp quân Nam Tống ở Nhai Sơn. Quân Nam Tống đại bại. Quân Kim thừa thắng đang ào ạt tràn tới Kinh đô , triều đình Nam Tống thật vô cùng nguy ngập. Nhiều vị đại thần đã phải tự sát. Trong tình thế ấy, viên Tả thừa tướng Lục Tú Phu vội vã hộ giá nhà vua vừa mới lên ngôi là Đế Bính xuống thuyền để đi lánh nạn. Cả hoàng cung, các triều thần và gia quyến của họ cũng vội vã xuống thuyền. Quân hồi vô lệnh, tất cả quân lính và tướng sĩ thấy thế cũng ùa cả theo. Thuyền bè chưa kịp chuẩn bị, lại có quá nhiều người đeo bám, nên ra đến ngoài khơi, gặp phải một cơn bão không phải lớn lắm mà tất cả thuyền bè đều bị đắm. Nhà vua, hoàng hậu, các đại thần ... Thẩy cũng đều chung số phận ...
Chỉ có ba mẹ con một vị phu nhân, vốn là công chúa con gái út của đời vua trước, may mắn thoát nạn nhờ cùng bám vào một cây cột buồm lớn. Vị phu nhân cũng khá lanh lợi, đã biết kịp lấy dây ở cột buồm buộc vào người, cho mình và cho hai con gái, nên đã không bị sóng biển đánh bật đi. Cả ba mẹ con cùng chiếc cột buồm theo luồng nước, trôi mãi về biển phương Nam, dạt đến bên ngoài vùng cửa Cờn, nơi có hòn đảo, ngôi chùa và nhà sư trụ trì , như đã nói ở phần trước.
Buổi sáng hôm ấy, ở cửa Cờn, cơn bão cũng đã ngớt. Nhà sư, như thường lệ sau khi xảy ra bão, đã ra phía đông hòn đảo để nhìn xem sự thể thế nào, thì bỗng thấy có những vật gì trôi ở phía xa xa. Đoán là có người bị bão nên nhà sư quay lại lấy mảng rồi vội vã trèo đi cứu nạn. Chú tiểu lúc này vừa mới thức dậy, đang quét dọn trong chùa. Vì nghĩ chú còn bé quá, nên nhà sư cũng không gọi đi theo. Khi mảng chèo tới nơi thì nhà sư nhận ra ba người phụ nữ, trong đó hai người còn nhỏ và một người là thiếu phụ. Chắc họ là ba mẹ con, nhà sư đoán như vậy. Không nề hà, nhà sư vội vã kéo từng người lên mảng rồi cho mảng trở mũi vào bờ. Lúc này, cả ba người hoàn toàn bất tỉnh, như ba cái xác không hồn, mặt mũi chân tay tím tái, chỉ còn thoi thóp thở. Qua quần áo và cách trang điểm đầu tóc, lại đeo đầy vàng bạc, nên nhà sư hiểu họ đều là người quý tộc.

Giữa thanh thiên bạch nhật, trong khi đưa chiếc mảng nhỏ vào bờ, ba người phụ nữ dường như thỏa thân hoàn toàn ở ngay dưới mặt nhà sư, do quần áo quá mỏng bị nhúng nước đã bó sát lấy người. Và lần đầu tiên trong đời , nhà sư nhìn thấy một thân hình khác giới ở độ tuổi trưởng thành, nằm như vậy. Những cảm giác bấy lâu dường như yên ngủ trong lòng nhà sư bỗng nhiên đều như bừng thức. Nhà sư cố dùng lý trí để kìm nén, nhưng vô hiệu. Những cảm giác ấy trổi dậy một cách tự phát, nằm ngoài sự kiểm soát của lý trí. Lý trí của nhà sư chỉ có khỏi tỉnh táo để giữ cho mình khỏi có những hành vi quá trớn, những hành vi tội lỗi, còn sự trổi dậy của những cảm giác ấy cũng đành chịu, và nó làm cho máy chèo của nhà sư khua lên loạn xạ, phải một lúc lâu sau mới lấy được thân bằng.
Vừa chèo mảng, nhà sư vừa phải nhắm mắt để khỏi nhìn thấy cảnh tượng phía trước, nhưng chỉ được một lúc, đã thấy máy trèo khua không thật hướng, nên lại phải mở mắt ra. Ba khuôn hình vẫn mở ra trước mặt. Nhà sư vẫn đưa mắt đi hướng khác, nhưng cũng chẳng được bao lâu, vì nhận ra mảng đã chệch ra hướng bờ, nên cuối cùng lại đành phải nhìn thẳng. Và vì nhìn thẳng như vậy, nên ba khuôn hình phụ nữ vẫn luôn luôn ở ngay trước mắt. Thật trớ trêu, bởi vì chỉ còn cách ấy mới có thể đưa mảng về đúng đích. Nhà sư thấy bàng hoàng cả người, cho rằng con mắt mình đã phạm vào giới luật, và trong cơ thể đã có những đòi hỏi tội lỗi. Vừa khua mảng, nhà sư vừa tự lên án, xỉ vã bản thân mình, nhưng mặc dù vậy, những gì mà nhà sư nhìn thấy cứ còn lưu mãi trong đầu óc, mà không cách gì có thể tẩy xóa đi được.

Sau khi lại sức và nhận rõ hoàn cảnh hiện tại, người thiếu phụ, tuy buồn rầu nhưng vẫn luôn tỏ ra là một phụ nữ yêu kiều, duyên dáng. Ba mẹ con nàng cùng chú tiểu lo việc bếp núc, còn những lúc rãnh rỗi thì thủ thỉ ngồi chuyện trò bằng thứ ngôn ngữ riêng của họ. Cả hai thầy trò đều nghe nhưng không hiểu gì, tuy vậy, sự lạ lùng cũng có sức hấp dẫn riêng của nó.
Nếu trước kia, chỉ có hai thầy trò thì không khí trong chùa lúc nào cũng có vẻ trang nghiêm, thậm chí hơi buồn tẻ, còn bây giờ, do sự xuất hiện của ba mẹ con, nên vẻ trang nghiêm ấy đã hết, để thay vào đó, là sự sum họp đầm ấm, tựa như không khí một gia đình. Nhất là những lúc tất cả cùng ngồi xung quanh mâm cơm, bây giờ đã có cả thức ăn cá, thì bầu không khí gia đình ấy lại càng hiện lên rõ rệt. Nhà sư nhìn mọi người bằng cặp mắt trìu mến, động viên ba mẹ con hãy gắng ăn cho mau lại sức, và trong lòng ông cũng hiện về những ý nghĩ, những tình cảm mà bấy lâu nay đã từng bị ghìm nén và bị lãng quên. Ông nhớ lại thuở bé thơ của mình được quây quần cùng chị cùng anh xung quanh bố mẹ. Ông cũng nhớ lại hồi còn trai trẻ ông đã từng mơ ước có một gia đình thật đầm ấm và vui vẻ, mà sau đó, chỉ do thời thế đưa đẩy, bất đắc dĩ ông mới phải chọn con đường tu hành

Trong thâm tâm, ông hoàn toàn thương cảm cho số phận của ba mẹ con người thiếu phụ. Cõi lòng của họ đã thực tan nát mà chỉ có những ai hoàn toàn thông cảm và thương yêu họ mới có thể cứu vãn được và mang lại cho họ một chút niềm vui. Ông nhận thấy tình cảm của ông đã dành cả cho mẹ con nàng và ông muốn được chia sẻ số phận cùng với họ.
Ông nhớ lại ba thân thể gần như khỏa thân nằm sõng soài trên mảng. Ba thân thể ấy lại khỏa thân hoàn toàn khi ông cùng chú tiểu lau người và mặc quần áo cho họ. Đấy những việc bất đắc dĩ và trong khi làm ông không có một hành vi lợi dụng nào, nhưng tuy vậy, bây giờ nhớ lại, và cảm nhận số phận đã đẩy đưa ông sang một hướng khác, không thể tiếp tục cuộc đời tu hành được nữa.
Ông thấy mình đã bị 'nhuốm' nặng bụi trần, không còn cách gì có thể cởi bỏ đi được. Đã nhiều đêm ông ngồi trước Phật điện, miệng tụng kinh và tay gõ mõ, mà cuối cùng mối thương cảm và những hình ảnh kia lại vẫn hiện về. Lý trí của ông đã bị khuất phục trước những tình cảm và những hình ảnh ấy. Thôi thì đành vậy, cuộc đời ông sẽ phải đổi hướng, chứ không thể ở mãi nơi đây. Giáo lý đạo Phật không thể chấp nhận một người như ông, sau khi đã có những hành vi dù không muốn, và những ý nghĩ như vậy, ông hoàn toàn hiểu như thế. Phải chi, ông là con người yếu đuối hay một ông lão khô héo, luôn luôn sống giữa làng nước thì đã đi một lẽ, đằng này ông lại là một người đàn ông đang còn tráng kiện, đã từng một mình ra biển cứu nạn khi có sóng to bão lớn, thì việc tiếp tục ở lại tu hành là điều không thể, sau khi đã có những hành vi và ý nghĩ như thế xảy ra. Dứt khoát ông sẽ phải hoàn tục trở lại.
Khoảng chừng nửa tháng sau, khi ấy sức khỏe của ba mẹ con người thiếu phụ đã hoàn toàn bình phục, không khí trong đảo cũng thật yên vui, đầm ấm như trong một gia đình, thì cũng là lúc nhà sư thực sự đương đầu với vấn đề đưa hay không đưa ba mẹ con nàng trở vào đất liền để trình báo với quan sở tại. Nhà sư hình dung ra trước mọi việc sẽ xảy ra như thế nào.
Có thể, khi trình báo với quan huyện xong, thì huyện sẽ đưa lên phủ, rồi phủ sẽ đưa lên triều đình. Cũng có thể, chỉ đến huyện hoặc phủ thôi, thì bị giữ lại. Mà dẫu có đưa đến đâu thì mẹ con nàng cũng sẽ bị xung vào làm tỳ thiếp cho người ta. Nước của nàng đã mất, nhà của nàng đã tan, tất cả các người thân thích đều không còn, thì việc bị xung làm tỳ thiếp sẽ là điều chắc chắn, không thể có chuyện và có lúc trở về cố quốc được. Những vị quan trên kia, dù ở huyện ở phủ hay ở triều đình, thì có bao giờ lại thiếu đàn bà con gái đẹp? Ấy vậy mà họ vẫn có quyền lấy thêm đàn bà con gái nữa ở các nơi khác đưa tới, trong khi đó, ông, một người hoàn toàn và khỏe mạnh, lại không thể có cái quyền ấy? Thế là bao nhiêu công phu khó nhọc, kể cả sự nâng niu giữ gìn và những tình cảm trìu mến của ông, hóa ra chỉ để làm tôi tớ cho người ta thôi. Ý nghĩ ấy làm cho ông cảm thấy như bị lừa gạt, sau ở đời lại có thể bất công đến như thế?
Cũng có thể, ông vẫn suy nghĩ tiếp, chỉ vừa vào đến đất liền, trên đường giải lên huyện lên phủ thì ba mẹ con nàng sẽ bị bọn lính hay một bộ bọn côn đồ nào đó đến cưỡng bức. Cả ba mẹ con nàng đều đẹp như thế, sẽ khó mà tránh khỏi tai vạ. Những tên cường bạo sẽ đè nghiến những thân thể kia ra để hành hạ cho đến kiệt sức mà chẳng thương tiếc gì. Ý nghĩ ấy làm cho ông thấy chua chát, tựa như chính bản thân mình vừa đánh mất đi một vật gì đó thật quý giá.
Thế mà ông, chaÜng lẽ ông lại để cho tất cả những điều ấy có thể xảy ra hay sao? Cuộc đời tu hành của ông, vì tất cả những gì liên quan đến ba mẹ con nàng, nên sẽ không thể còn tiếp tục được nữa, thì bây giờ đây sẽ phải xử trí ra sau? Chẳng lẽ ông phải sống nốt cuộc đời, sau khi đã hoàn tục trở lại, trong buồn thương quạnh vắng và trong nhớ thương vô hồi vô hạn, cho đến lúc xuống mồ? Không, ông không thể buông xuôi cho những điều ấy có thể xảy ra được. Ông phải là người che chở, là chỗ dựa vững chắc cho cả ba mẹ con nàng. Ông cảm thấy số phận ông từ nay sẽ gắn bó vĩnh viễn với số phận của ba mẹ nàng, mà không cách gì, không thế lực nào có thể chia cách nỗi. Ông sẽ hoàn tục, sẽ mang ba mẹ con nàng và chú tiểu vào đất liền, đi đến một nơi nào đó, để làm ăn sinh sống như mọi người. Hai bàn tay săn chắc và tài sông nước của ông chắc chắn có thể đem lại một cuộc sống gia đình ấm no hạnh phúc, và ông hoàn toàn tin tưởng như vậy.

Và ông đã đi tới quyết định. Một buổi tối, sau khi tụng kinh niệm Phật xong lần cuối cùng, và mọi người đã đi ngủ, thì ông vẫn ngồi viết một lá thư thật dài, trong đó kể hết nông nổi nguồn cơn và các hoàn cảnh mà mẹ con người thiếu phụ sẽ lâm phải. Cuối thơ ông ngỏ lời muốn cưới nàng làm vợ rồi cùng nhau đi khỏi nơi đây. Lời trong thư của ông thật chân thành, cảm động, và ông không hề dấu nàng một điều gì. Không thể trực tiếp trao đổi bằng lời vì ngôn ngữ bất đồng, nên ông chỉ có cách ấy để biểu lộ tình cảm, và phấp phỏng chờ mong thư phúc đáp của nàng.
Sáng hôm sau, lựa lúc chỉ có hai người, ông trao bức thư cho nàng, rồi lên mảng vào bờ đi mua lương thực, thực phẩm như mọi lần.
Trong lúc ông đi vắng, ở nhà, tìm được lúc thuận lợi, nàng mở thư ra đọc. Vừa đọc, sắc mặt nàng vừa biến đổi. Nó chuyển từ màu hồng sang màu tím tái. Sự việc mà trong thư vẽ ra thật quá đột ngột, đối với nàng. Là người phụ nữ quyền quý vào bậc nhất nhì của một đất nước, lại quá ư nhạy cảm, nên nàng hình dung ngay ra cái cảnh vợ chồng thường dân mà bức thư đã đề cập tới. Đây là điều nàng không thể chấp nhận, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Phải chi nàng chỉ là một cô hầu, hoặc là một người xuất thân từ trong đám bình dân, thì đã đi một lẽ khác. Đằng này, đường đường là một công chúa, rồi là một mệnh phụ, từ thuở lọt lòng đã quen sống trong nhung lụa và đài các, nên nàng không thể tưởng tượng và chấp nhận nổi một đời sống thường dân. Nó là những gì tối tăm, bần hàn và nhục nhã đối với nàng. Nếu sau này có phải lâm vào tình trạng ấy thì nàng cũng quyết không thể nào chấp nhận. Trong sâu thẳm cõi lòng, nàng vẫn còn le lói chút hy vọng sẽ có lúc được trở về cố quốc, nếu không còn được hưởng cuộc đời phú quý, thì chí ít cũng sống thanh bạch cho đến hết tuổi già. Và vì vậy, việc chấp nhận lấy nhà sư sau khi đã hoàn tục, đối với nàng, hoàn toàn sẽ là điều không thể.
Là người phụ nữ đã từng sống giữa một triều đình Nho giáo từ tấm bé, nên nàng cũng không có cách giải quyết nào khác hơn là tuân theo tam cương nhũ thường. Khi chưa đủ ba năm, thì dù muốn, nàng cũng không thể nào tính đến chuyện tái giá được. Vả lại, hình ảnh cả triều đình tan tác, người bị giết, người phải tự sát, còn số đông phải chết đuối giữa biển khơi, trong đó có cả nhà vua và hoàng hậu và vị đại thần chồng nàng, bấy lâu nay vẫn luôn luôn ám ảnh mỗi giấc ngủ của nàng và trở thành những giấc mơ kinh hoàng nhất. Trong tình trạng như vậy, nàng không thể nghĩ đến chuyện tái giá, cho dù đấy là nơi môn đăng hộ đối đi nữa.
Dẫu trong lòng nàng có thực sự mang ơn cứu mạng của nhà sư và nhận thấy trong các cử chỉ, hành vi của nhà sư không có điều gì khuất tất, thì nàng cũng không thể chấp nhận một cuộc hôn nhân với nhà sư được. Lòng biết ơn và sự thành kính nàng vẫn luôn ghi nhớ trong lòng. Trước lúc đi khỏi nơi đây, nàng sẽ gởi lại một số đồ trang sức quý giá để tỏ lòng biết ơn, còn việc kết duyên thì dù thế nào cũng không để xảy ra. Nàng vẫn còn nhớ về cố quốc, và hơn nữa, còn nhớ mình đã từng là một công chúa và một mệnh phụ.
Sau khi suy nghĩ kỹ càng, người thiếu phụ xin chú tiểu giấy bút mực để viết một lá thư, nói thác là để gởi cho quan sở tại (tất nhiên là bằng ngôn ngữ cử chỉ). Trong thư gởi nhà sư, nàng trình bày hết mọi lẽ để nhà sư hiểu hoàn cảnh của mình. Nàng cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành của ba mẹ con, một mực gọi nhà sư là 'ân nhân', và 'xin ân nhân không nên nghĩ đến chuyện này nữa để khỏi sao nhãng con đường tu hành'.
Sau khi đọc xong lá thư trả lời của người thiếu phụ, nhà sư hoàn toàn thất vọng. Có một cái gì đó sụp đổ trong tâm hồn ông. Bao nhiêu hy vọng của ông đã tan thành mây khói, mà những hy vọng ấy mới chân thành làm sao! Nhà sư tự cảm thấy mình thật tội nghiệp, cô đơn, côi cút ở trên cõi đời này. Không thể tiếp tục cuộc đời tu hành vì mình đã phạm giới luật, cũng không thể hoàn tục được vì như thế sẽ phải mãi mãi sống trong cô đơn, thương nhớ cho đến mãn đời, và đó sẽ là một điều kinh khủng nhất đối với một người đã từng yêu!
Trước mặt nhà sư bây giờ chỉ còn là một vực sâu thăm thẳm mà ông sẽ nhảy vào đó để cho quên hết mọi sự đời. Suốt đêm sau đêm đọc lá thư, ông ngồi cầu kinh niệm Phật trước Phật điện. Mọi người đã đi ngủ hết mà ông vẫn còn ngồi như thể hóa đá. Ông xin Đức Phật tổ hãy tha thứ cho Những lỗi lầm mờ tối của ông. Ông cũng xin Đức Phật tổ chấp nhận cho ông được chết để chuộc lại mọi lỗi lầm.
Gần sáng, ông uống trọn môït liều thạch tính đã chuẩn bị ngay từ lúc mới nhập Phật điện. Một lúc sau thuốc ngâm. Ông dẫy nhẹ mấy cái rồi từ từ khép vành mắt lại. Ba người phụ nữ và chú tiểu lúc ấy đều ngủ say, nên không ai hay biết gì cả.
Sáng hôm sau, mọi người thức dậy, thấy nhà sư đã chết. Thiếu phụ là người đầu tiên nói rằng nhà sư chắc bị cảm mạo nên mới bị chết đột ngột như thế để cho hai con gái và chú tiểu yên tâm, còn trong thâm tâm, nàng hoàn toàn hiểu rõ nguyên nhân và liều thuốc độc đã giết chết nhà sư như thế nào. Sau khi mai táng chu đáo cho nhà sư xong, nàng âm thầm lặng lẽ như một cái xác không hồn. Nàng tự trách mình đã là nguyên nhân gây ra cái chết ấy. Nhớ lại những việc nhà sư đã làm cùng lá thư mà nhà sư đã viết, nàng thấy ông là một con người hoàn toàn tử tế và đáng kính trọng biết bao. Ông là ân nhân thực sự của ba mẹ con nàng. Một người như thế mà bỗng nhiên phải chết! Giánhư mẹ con nàng cứ bị chết đuối ở ngoài biển khơi, để nhà sư khỏi phải trông thấy thì đâu đến nỗi một người tử tế như thế phải chết oan khốc thế này? Càng nghĩ, người thiếu phụ càng thấy xiết bao ân hận, những ước mơ của nhà sư sau khi hoàn tục, đâu có phải là điều gì xấu xa, trái lẽ? Nhà sư không phải là một người quyền quý nhưng con người ông chẳng chân thành và cao quý đó sao? Giá như nàng có thể đáp ứng được ước nguyện của ông thì đâu đã xảy ra cơ sự này?
Người thiếu phụ cũng nghĩ đến tương lai mà lá thư trước đây đã thử vẽ ra. Bị ô nhục giữa đường hay bị xung làm tỳ thiếp thì cũng đều nhục nhã cả. Con đường về cố quốc quả là xa lơ xa lắc, không còn chút hy vọng nào nữa, bởi vì quân thù vừa mới đặt chân đến mà triều đình thì đã tan tành, chẳng còn ai sống sót. Giang sơn không thể khôi phục được, nếu có cố công tìm về thì cũng bị rơi vào tay ngoại bang, rồi làm tỳ thiếp hay làm kẻ hầu người hạ ngay tại quê hương của mình, và điều ấy lại còn nhục nhã hơn bao giờ hết.
Người thiếu phụ thấy hiện ra trước mắt con đường đầy chông gai, còn mình thì hoàn toàn lẻ loi cô độc, không có người bảo trợ. Sau cái chết của nhà sư, nàng hiểu chắc chắn rồi đây mẹ con nàng sẽ chẳng tìm thấy đâu một người ân cần tử tế như thế nữa. Cuộc đời cả ba mẹ con nàng quả đang ở ngay trước ngõ cụt. Thà chẳng bao giờ thấy mình phải rơi vào sự ô nhục là hơn.
Hoàn toàn thất vọng, người thiếu phụ thấy không còn muốn sống nữa. Nàng không ăn, không uống, suốt mấy ngày lặng lẽ âm thầm. Một buổi tối, khi hai con gái và chú tiểu đã ngủ say, thì nàng trở dậy, lặng lẽ bước ra khỏi nhà. Nàng đi ra phía biển, rồi cứ thế, lội mãi ra vùng nước sâu ...
Sáng hôm sau, hai người con thức đậy không thấy mẹ đâu, thì vừa kêu khóc vừa bổ đi tìm. Một lúc sau, thấy xác mẹ nổi dập dềnh ở bên mép nước. Hai cô gái cùng chạy xuống, và trong nỗi đau thương tột độ, cùng nắm tay nhau, trầm mình vào làn nước biếc ...
Đến lượt chú tiểu đi tìm thì thấy cả ba mẹ con người thiếu phụ đã chết. Chú bàng hoàng, kinh hãi, không biết phải xử trí thế nào. Vừa hay, lúc đó ở phía đất liền có vài cánh buồm xuất hiện. Chú ngồi chờ cho đến khi có thể vẫy tay ra hiệu được, liền làm dấu để cho thuyền tiến vào đảo. Khi các thuyền cập đảo, những người dân chài bước xuống nghe câu chuyện chú tiểu thuật lại, ai nấy cũngï đều thương xót. Họ cùng nhau vớt xác ba người phụ nữ, tìm đồ khâm liệm, rồi đem chôn ở bên cạnh ngôi mộ nhà sư. Thật vô tình mà như hữu ý, như khi còn sống nhà sư đã từng mơ ước, là từ nay số phận sẽ vĩnh viễn gắn bó cuộc đời của họ lại. Chỉ có điều, sự gắn bó ấy lại chẳng thể xảy ra ở chốn dương gian này! Âu đó cũng là số kiếp của họ vậy!
Chùa bấy giờ không còn người trụ trì nữa. Chú tiểu còn quá nhỏ chưa đủ khôn lớn để có thể ở lại tu luyện một mình. Vả lại, sau mấy cái chết vừa rồi, bản thân chú cũng đã quá sợ hãi. Chú xếp đồ đạc rồi theo những người dân chài vào đất liền, trở về nhà thôi không đi tu nữa.
Ngôi chùa lâu ngày cũng trở thanh nơi hoang phế, vì chẳng còn ai đến thăm nom. Tuy vậy, những người dân chài vẫn phải tiếp tục công việc làm ăn sinh sống của mình. Thỉnh thoảng họ vẫn phải ghé vào đảo mỗi khi xảy ra giông bão. Họ lấy làm tiếc vì không có người giúp đỡ những lúc khó khăn, nhưng khi còn nhà sư trụ trì. Và chính những lúc như thế, họ lại càng thấm thía công lao của nhà sư quá cố ...
Mấy tháng sau, dân chài trong vùng cùng nhau góp công sức của để dựng ngôi đền, thờ bài vị của nhà sư. Đền được dựng ngay trên nền của ngôi chùa cũ. Ba mẹ con người thiếu phụ bất hạnh cũng được lập bài vị để phối thờ. Họ tin rằng những âm hồn bơ vơ, từ nay có nơi nương tựa, sẽ phù hộ độ trì, giúp cho họ đánh bắt được nhiều tôm cávà mọi sự cũng đều tai qua nạn khỏi.
Những lời khấn nguyện của người dân chài ấy, vậy mà hóa ra ứng nhiệm. Cửa Cờn từ đó trở thành nơi đi về của nhiều thuyền bè đánh cá và có tiếng là một cửa biển mang lại nhiều tốt lành.
Trải thời gian, ngôi đền được tu bổ thêm, rồi được xây cất trở nên khang trang, vững chải. Hương khói ở đó quanh năm không lúc nào dứt. Dân đi biển mỗi khi ghé qua, đều đến đền thắp hương tưởng niệm. Họ cầu mong sự phù hộ độ trì mà cũng là để chia sẻ nỗi niềm với những người thiên cổ ...
Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#16 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:33:08

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Đền Thượng ở Hữu Lập (Quỳnh Lập-Quỳnh Lưu)

Đền Thượng ở Hữu Lập (Quỳnh Lập) 
(QuynhLuu Cập nhật 01/06/2006)


Đền này cũng thờ Tứ Vị thánh nương, thờ vọng thánh đền Cờn. Niên đại xây dựng, trùng tu, mở rộng cùng thần phá của đền được các chức sắc trong làng ghi chép kỹ nhưng nay không còn.

Vì là đền thờ vọng đức thánh đền Cờn, nên đền Thượng này phải xây dựng sau đền Cờn, ít nhất là một trăm năm.
Đền được xây dựng ở xóm Yên (tên chữ là Yên Thịnh) trên diện tích khoảng 2 mẫu tây. Là một công trình kiến trúc khá đồ sộ, nổi trội so với với các công trình kiến trúc trong vùng, sau đền Cờn.
Như đền Cờn, phía trước đền tiếp giáp với mép sông Mai Giang là một bờ đá, cao hơn một mét, hình vòng cung dài khoảng 100m để bảo vệ khu đền khi mưa to gió lớn và nước thủy triều dâng cao. Ba phía còn lại cũng được bao tường bằng những hòn đá lấy từ cửa lạch ở chân rú Đồ về.

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#17 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:34:17

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Xã Quỳnh Thạch
VƯỢT KHÓ ĐI LÊN



Quỳnh Thạch là xã thuần nông, diện tích tự nhiên là 6,4 km¬2 , dân số trên 8,7 nghìn người được phân bố thành 13 xóm. Tuy là một xã có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế-xã hội như có đường quốc lộ 1A đi qua địa bàn với tổng chiều dài 2,5km rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, giao thông vận tải; có lượng đất sét nhiều là nguồn nguyên liệu quý giá để sản xuất gạch ngói,…nhưng từ xưa Quỳnh Thạch vẫn là một xã nghèo…Tổng thu nhập đầu người thấp, cơ sở vật chất xuống cấp, hệ thống điện, đường, trường, trạm tạm bợ. Những năm trước, cứ hết vụ cày cấy, đàn ông xuôi ngược trong nam ngoài bắc làm thuê, phụ nữ không có công ăn việc làm…Thiếu ăn mùa giáp hạt luôn là bài ca muôn thưở, nạn bán lúa non, vay lãi suất cao, nợ ngân hàng luôn đeo đẳng.

Đi tìm lời giải cho bài toán trên, Đảng bộ, chính quyền xã Quỳnh Thạch đã tìm ra hướng đi cho riêng mình. Trước hết là phá thế độc canh, khoanh vùng cho các nơi có thể phát triển song song cá-lúa như Đình Đình, đồng Nông Giang, Mụ Nhuệ, Bờ Quai…, chuyển đổi sang nuôi trồng thủy hải sản 41,09 ha. Các cánh đồng Bụi Chòi, Điền Điển, Cồn Ngói với 65,99 ha chuyển sang thâm canh màu. Bằng chính sách kêu gọi đầu tư của xã, các doanh nghiệp như Trại chăn nuôi trồng thủy sản, Cửa hàng xăng dầu của Công ty Xăng dầu Nghệ Tĩnh, Trại chăn nuôi ba ba… đến đầu tư sản xuất kinh doanh là điều kiện để người dân Quỳnh Thạch giao lưu, học hỏi, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của xã nhà. Với lượng đất sét dồi dào, chất lượng tốt đã có 10 lò gạch ngói hoạt động, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho bà con. Ngoài ra, xã Quỳnh Thạch tạo điều kiện để người dân tín chấp vay vốn ưu đãi của ngân hàng, lựa chọn những doanh nghiệp xuất khẩu lao động có uy tín để đưa lao động địa phương đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, nhờ đó đã giả quyết việc làm tạm thời cho hàng trăm lao động nhàn rỗi đem về trên 2,5 tỷ đồng mỗi năm.

Phát huy những tiềm năng, lợi thế của mình, xã Quỳnh Thạch còn phát triển kinh tế bằng việc xây dựng cac làng nghề. Hiện nay, toàn xã đã có hai làng nghề mây tre đan xuất khẩu là làng nghề Phú Thịnh và làng nghề Trùng Sơn, giả quyết việc làm cho hàng trăm lao động. Toàn xã đã có 13 trang trại vừa và nhỏ, trong đó mô hình cá-lúa đưa lại hiệu quả kinh tế cao và 2 chương trình có dự án đầu tư của Nhà nước là mô hình chăn nuôi của xóm 10 và mô hình nuôi cá rô phi đơn tính xuất khẩu. Xã cũng đang tiếp tục để xây dựng một làng nghề thứ 3 là làng nghề mây tre đan xuất khẩu Quỳnh Viên. Với giải pháp trên đã đem lại giá trị tổng thu nhập kinh tế-xã hội năm 2007 đạt gần 70 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế lên 17%, thu nhập bình quân đầu người hơn 7 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn dưới 10%...Trên địa bàn xã không còn nhà tranh tre.

Cùng với phát triển kinh tế, Quỳnh Thạch quan tâm chăm lo sự nghiệp “trồng người”. Với 3 ngôi trường đang xuống cấp nghiêm trọng, nếu nhìn vào sức dân và ngân sách xã thì không biết bao giờ có trường cho các em học. Bằng mối quan hệ, lãnh đạo xã đã xin được nguồn tài trợ không hòn lại của Chính phủ Nhật Bản 1,5 tỷ đồng xây dựng trường Tiểu học. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp xây dựng 2 cụm trường Mầm non. Cả 2 trường tiểu học và mầm non được công nhận đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 1. Trạm y tế xx, trụ sở được xây dựng khang trang; hệ thống điện hoàn thiện; giao thông nông thôn được rải nhựa, đổ bê tông và cấp phối 100%. Phong trào ‘ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được đẩy mạnh, có 71% hộ đạt gia đình văn hóa, 11/13 xóm đạt đơn vị văn hóa, 13/13 xóm có nhà văn hóa mới, có dòng họ tiểu biểu cấp huyện, 10 CLB Gia đình không sinh con thứ 3, 13 CLB Tình thương…Hàng năm không có học sinh bỏ học, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng chiếm trên 50%. Năm 2008 xã phấn đấu đưa trường Trung học cơ sở đạt chuẩn Quốc gia và xã chuẩn Quốc gia về y tế.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, xã Quỳnh Thạch vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn. Đất đai nhiều phèn, mặn, đất sét và thiếu nước nên rất khó khăn cho sản xuất nông nghiệp…Hiện tại, xã tích cực chuyển đổi để tích tụ ruộng đất, xây dựng cac mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản; mở rộng quan hệ đối ngoại để tạo nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư vào địa bàn để khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương, góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển toàn diện.

Với một Đảng bộ có tới 360 đảng viên (đứng thứ 2 toàn huyện, sau Quỳnh Bảng), năm 2007, Đảng bộ Quỳnh Thạch đạt danh hiệu đơn vị vững mạnh và 5 tổ chức đoàn thể vững mạnh, xuất sắc. Đặc biệt, Quỳnh Thạch đội ngũ cán bộ, lãnh đạo cấp ủy, chính quyền được đánh giá là những người “có tầm” và giàu tâm huyết với nhân dân, tin rằng, họ luôn vững tin vượt qua mọi khó khăn, phát huy nội lực để đẩy mạnh công cuộc đổi mới quê hương ngày càng giàu về kinh tế, mạnh về an ninh, quốc phòng, tiến bộ về mọi mặt.

(Sưu tầm)

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#18 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:35:28

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Xã Quỳnh Phương
SƠN THUỶ HỮU TÌNH


Quỳnh Phương là xã miền biển nằm ở vùng đông bắc huyện Quỳnh Lưu, đây từng là “đại bản doanh” của làng cổ Phương Cần hình thành từ cuối thời Pháp thuộc đến nay cũng đã gần 1000 năm tuổi. Trong quá trình trường tồn và phát triển, lớp lớp thế hệ nhân dân của quê hương đã hun đúc nên một kho tàng văn hóa vật chất và tinh thần vô giá cùng với những truyền thống lao động và đấu tranh quý báu, lưu truyền cho hậu thế. Xã Quỳnh Phương có diện tích tự nhiên 345 ha ở phía bờ Nam cửa Lạch Cờn, cách Quốc lộ 1A khoảng 3km. Địa thế trước biển sau sông đã tạo nên địa bàn xã mang hình bán đảo, với nhiều nét đẹp kì vĩ mà thiên nhiên ban tặng.

Cuối thế kỷ thứ 18 (thuộc thời Đường) ban đầu xã gọi là xóm Cờn sau đổi thành Càn Hải (tức Kẻ Càn) ở phía bắc, và Kẻ Xóm ở phía Nam. Đến thời Trần đổi thành Càn Hải, sau đổi thành Phương Cần. Thời Lê, Phương Cần có 7 làng, đó là làng Phương Cần, Ngọc Huy, Hữu Lập, Đông Hời, Hải Lệ và Đông Lý trong tổng Hoàng Mai. Trải qua nhưng thăng trầm và biến động của lịch sử tên xã được đổi tên cho phù hợp với yêu cầu cách mạng lúc bấy giờ. Năm 1946-1947 xã mang tên là làng Phương Cần, từ năm 1948-1953 đổi tên thành xã Văn Phương. Sau 1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng và đi lên con đường xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, tên xã Quỳnh Phương ra đời từ đó.

Hơn 50 năm nhân dân Quỳnh Phương đã từng lập nên biết bao chiến tích, cùng với những hi sinh xương máu mà người dân nơi đây đã ngã xuống để bảo vệ độc lập dân tộc, giải phóng quê hương. Địa hình xã bằng phẳng có dãy núi Hùng Vương (hay còn gọi là núi Thằn Lằn) án ngữ ra biển phía đông bắc. Núi cao 50m, dài 1km che chắn một phần gió bão cho làng và tạo nên cảnh non xanh nước biếc, sơn thủy hữu tình tô thắm thêm cảnh đẹp quê hương. Lạch Cờn-sông Mai Giang chảy vòng quanh từ phía đông bắc tới phía tây nam của làng. Cửa lạch khi thủy triều lên rộng chừng 1km, độ sâu từ 5-7 km. Lạch Cờn-sông Mai Giang có giá trị về nhiều mặt như quân sự, kinh tế, giao thông và tiềm năng du lịch. Ngành nghề chính phát triển kinh tế của xã là khai thác, chế biến, dịch vụ hải sản.

Đền Cờn xã Quỳnh Phương được lập vào đầu thời Trần thế kỷ 13, gồm Đền Cờn trong cạnh bên dòng Mai Giang thờ tứ vị thánh Nương (hay còn gọi là tứ vị vua bà); đền Cờn ngoài nằm ở cửa biển trên núi Hùng Vương thờ nhà sư (hay còn gọi là ông Chín Cờn) –người đã cưu mang 4 mẹ con Dương Thái Hậu (tức là Mẫu Cờn) và Hoàng đế Tống Đế Bính cùng các tướng tùy tùng, có công âm phù nhà Trần, nhà Lê và các triều vua khác đánh thắng quân xâm lược nước ta. Ngoài ra còn có nhiều sự tích thần thoại như Ông Đùng gánh núi. Dấu chân ông Đùng (ông khổng lồ) vẫn còn nguyên dấu tích dưới chân núi đá Thằn Lằn được nhân dân lưu truyền cho hậu thế như một sức mạnh quật khởi của vùng đất này, viên đá mặt trời và di tích về thần núi, thần nông, rồi sự tích hạt lúa và các miếu thờ các thần thánh nơi đây….

Lễ hội đền Cờn được tổ chức hàng năm từ ngày 19 đến ngày 21 tháng giêng âm lịch (ngày xưa còn gọi là hội phát tính) ngoài ra còn có nhiều lễ tế được kéo dài từ đầu tháng giêng đến tháng ba âm lịch. Ngày nay lễ hội Đền Cờn đã được khôi phục lại sau 50 năm bị mai một và Đền Cờn đã được Bộ Văn hóa thông tin cấp bằng di tích lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia 1993. Đền Cờn không chỉ đẹp về mặt kiến trúc nghệ thuật mà còn nổi tiếng linh thiêng nhất Nghệ Tình: “Nhất Cờn , nhì Quả, tam Bạch Bã, tứ Chiêu Trưng”. Hằng năm Đền Cờn tiếp đón hàng chục vạn du khách khắp nơi về dâng hương, tham quan và du lịch.

Trước biển sau sông, có Đền Cờn cổ kính, có khu du lịch sinh thái biển. Cầu Đền Cờn là huyết mạch giao thông quan trọng nối liền Quỳnh Phương với các xã với tuyến Tỉnh lộ 537B, đặc biệt với khu công nghiệp Hoàng Mai. Từ đó để Quỳnh Phương phát huy tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh gắn liền du lịch sinh thái biển. Khu du lịch sinh thái biển có chiều dài bờ biển 2km, chia làm 2 khu vực (bãi trước, bãi sau). Có khách sạn Phương Trang 3 tầng, 50 phòng, có nhà ăn, hội họp đạt tiêu chuẩn và một số nhà nghỉ của tư nhân. Khách đến khu du lịch sinh thái biển Quỳnh Phương ngày càng đông không chỉ được ngắm biển với phong cảnh đẹp mà còn được dịp sống trong phong cảnh sắc tâm linh với những lễ hội văn hóa, nơi đây còn có nguồn hải sản dồi dào đảm bảo phục vụ đầy đủ cho khách. Đường đi lại thuận tiện và là một trong những điểm du lịch của Quỳnh Lưu gần QL1A. Với lợi thế được thiên nhiên ban tặng, và tiềm năng du lịch, Quỳnh Phương đã và đang phát huy thế mạnh của mình để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn song song cùng với phát triển kinh tế biển.

(Sưu tầm)

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#19 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:36:36

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Xã Quỳnh Xuân
ĐIỂM SÁNG CẦN ĐƯỢC TIẾP LỬA!


Quỳnh Xuân là xã bán sơn địa nằm phía Bắc huyện Quỳnh Lưu, với diện tích 1.585 ha trong đó diện tích đất rừng chiếm 487 ha còn lại là đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản…Dân số gần 13 nghìn người tính đến năm 2008 (trong đó giáo dân chiếm 10%), lao động trong độ tuổi gần 4 nghìn người.
Có quốc lộ 1A với chiều dài 4km chạy qua là trục giao thông chính, bên cạnh đó tuyến đường 37 liên huyện và tuyến 37C tù Nghĩa Đàn xuống bãi biển Quỳnh liên cũng là những tuyến đường quan trọng để đi lại trao đổi hàng hóa, phát triển du lịch…góp phần thúc đẩy nền kinh tế đi lên

Trong những năm gần đây Quỳnh Xuân thật sự đã khởi sắc, tính đến năm 2007 trên toàn xã đã có 18 doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động có hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực với doanh thu đạt 50 tỷ đồng/ năm, đặc biệt là có nhiều doanh nghiệp đầu tư khai thác vật liệu xây dựng tại lèn Chùa với tổng vốn đầu tư trên 20 tỷ đồng đã giả quyết cho hàng nghìn lao động có công ăn việc làm. Hàng năm, khối lượng khai thác đá các loại được khoảng 300.000 m3 , trở thành xã đi đầu trong toàn huyện về khai thác đá xây dựng. Những doanh nghiệp thực sự giàu mạnh như: Công ty TNHH Xuân Quỳnh, công ty TNHH Thanh Xuân, công ty TNHH Hoàng Long đầu tư xây dựng nhà máy giấy, chuẩn bị hoàn thành và đi vào hoạt động.

Sản xuất nông nghiệp đạt 3.384 tấn. Đặc biệt nhờ chuyển đổi ruộng đất làm nông nghiêp cho năng suất thấp sang nghề nuôi trồng thủy sản – được xem là nghành kinh tế mũi nhọn trong những năm sắp tới. Năm 2007 xã đạt 220 tấn tôm xuất khẩu, 30 tấn cá nước ngọt.
Nhờ sự quan tâm của chính quyền địa phương, sự chỉ đạo sát sao kịp thời về đường lối mà đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao 100% bà con nhân dân được dùng nước sạch. Số hộ giàu và khá là 1.166 hộ, hộ nghèo giảm xuống đáng kể. Trên toàn xã đã có 22 chiếc xe con đời mới, 100 chiếc xe tải…

Song song với những tiềm năng, những thành tựu đã đạt được về phát triển kinh tế, trên lĩnh vực văn hóa-xã hội, Quỳnh Xuân cũng là địa phương đi đầu trong toàn huyện. Đến nay, Quỳnh Xuân đã có 2 trường và 1 trạm y tế đạt chuẩn Quốc gia. Phong trào khuyến học của địa phương phát triển mạnh mẽ, từ các tổ chức trong xã đến các dòng họ, các làng, các xóm đều thi đua lẫn nhau tạo nên phong trào học tập tích cực. Theo đó số lượng học sinh giỏi các cấp, học sinh đậu vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng đông (trung bình mỗi năm có 60-70 em). Tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn luôn được giữ vững. Đời sống dân sinh ngày càng được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần.

Quỳnh Xuân có 2/3 diện tích tự nhiên là rừng núi được phủ xanh và phát triển tốt tạo nên một vùng sinh thái xanh đẹp, là tiềm năng để Quỳnh Xuân có thể thu hút đầu tư phát triển du lịch sinh thái, hấp dẫn du khách. Ngoài ra, Quỳnh Xuân còn có nhiều di tích lịch sử văn hóa, tiêu biểu như: Đền Xuân Hòa, đền Phùng Hưng và chùa Bát Nhã, trong đó 2 di tích đã được công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia đã thu hút khá nhiều nhân dân trong vùng đến thăm. Và nếu được tiếp tục đầu tư, nâng cấp đúng mức những di tích này sẽ cùng với du lịch đền Cờn (xã Quỳnh Phương), du lịch biển Quỳnh sớm tạo nên một quần thể du lịch hấp dẫn du khách thập phương. Quỳnh Xuân đã có 2 khách sạn lớn với đầy đủ trang thiết bị hiện đại và nhiều loại hình dịch vụ giải trí khác, đáp ứng được nhu cầu của du khách trong và ngoài tỉnh.

Gần đây UBND xã Quỳnh Xuân đang kêu gọi các dự án đầu tư với tổng chi phí trên 10 tỷ đồng như các dự án: xây dựng trạm bơm ở đồng 32 của hợp tác xã Đại Xuân cung cấp nước cho 317 ha hiện còn thiếu nước; dự án chuyển đổi trên 10 ha đất sản xuất nông nghiệp năng suất và 30 ha diện tích đất nhiễm mặn sang nuôi trồng thủy sản; xây dựng nhà máy nước sạch giai đoạn 3; xây dựng đường Xuân Liên; cải tiến dây chuyền sản xuất đá xây dựng trên diện tích 11 ha; xây dựng các nhà máy tại Đồng 32…

Với những tiềm năng, lợi thế trên và với những cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo những điều kiện thuận lợi nhất (về giải phóng mặt bằng, các thủ tục hành chính…), Quỳnh Xuân hứa hẹn là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư. Tin rằng Quỳnh Xuân sẽ không ngừng vươn lên và phát triển toàn diện, bền vững làm thay đổi bộ mặt nông thôn.

(Sưu tầm)

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
hoanganhvan
#20 Đã Gửi : 28/04/2010 lúc 13:37:45

Tâm huyết

Nhóm: Thành viên

Gia nhập: 10-09-2008
Bài viết: 1.409
Điểm: 3.762
Đến từ: Quỳnh Lưu
Yêu thích: 113
Được cảm ơn 124 lần trong 107 bài.

Xã Mai Hùng: Đủ điều kiện, sẵn sang quyết tâm

Xã Mai Hùng được thành lập năm 1969 trên cơ sở sát nhập hai xã Quỳnh Hợp và Quỳnh Kim. Nếu nhìn tổng quan trên bình diện địa hình thì Mai Hùng là hình ảnh của một Quỳnh Lưu thu nhỏ. Ở đây có cửa biển, sông núi, đồng bằng, hệ thống giao thông, sắt –thủy –bộ…Với những lợi thế đó là đòn bẩy để Mai Hùng phát triển kinh tế hàng hóa đa dạng phong phú, phấn đấu trở thành một xã giàu, mạnh của huyện Quỳnh Lưu.

Trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển kinh tế -xã hội. Mai Hùng cũng như các địa phương khác đều phải đánh giá đúng tiềm năng, lợi thế và kể cả những khó khăn đặt ra. Có xác định rõ các yếu tố tiềm năng mới có hướng đầu tư đúng và khai thác khơi dậy để các yếu tố thuận lợi được phát huy. Trước hết phải nói đến nguồn nhân lực, đây là thế mạnh của Mai Hùng với trên 8,3 ngàn dân và trong đó lực lượng lao động chiếm tỷ lệ 50-55% số người trong độ tuổi lao động. Trong khi đó sản xuất trên tất cả các lĩnh vực chưa thu hút được nhiều lao động. Vì vậy lao động đã đi kiếm việc làm các nơi khác chiếm tỷ lệ không nhỏ.
Về điều kiện địa lý, đất đai và giao thông cũng là yếu tố rất thuận lợi để khai thác. Với diện tích tự nhiên 1.221ha, Mai Hùng cũng là xã trung tâm nằm trong khu công nghiệp Hoàng Mai, có con sông Hoàng Mai ở phía bắc chạy từ đầu xã đến cuối xã nối cửa biển Lạch Cờn với hồ Vực Mấu, là đường giao thông thủy thông thương với các cảng biển trong và ngoài nước; có đường sắt Bắc-Nam và ga Hoàng Mai ở phía tây; có quốc lộ 1A đi qua trung tâm xã như chiếc đòn gánh mà đầu bắc là thị trấn Hoàng Mai, đầu nam là xã Quỳnh Xuân. Như vậy mạng giao thông cả thủy và bộ đều hết sức thuận lợi để khai thác trong quá trình đầu tư phát triển. Vê đất đai, ngoài đất sản xuất nông-lâm nghiệp, hai bên đường xuống các khu du lịch biển Quỳnh Liên và Quỳnh Phương, đường lên khu du lịch sinh thái hồ Vực Mấu…quỹ đất còn rất lớn, đủ điều kiện để mở rộng sản xuất kinh doanh theo mô hình cụm cụm tiểu thủ công nghiệp, khu làng nghề tập trung, khu thương mại-dịch vụ…
Phát huy các tiềm năng và lợi thế trên, trong những năm qua kinh tế-xã hội của xã bước đầu đã đạt được những thành tựu quan trọng về nhiều mặt. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 12,5%,trong đó nông lâm-ngư nghiệp tăng 10%, công nghiệp-xây dựng cơ bản tăng 5%, dịch vụ-thương mại tăng 8%. Đặc biệt là đời sống của nhân dân được nâng lên đáng kể: tỷ lệ hộ nghèo toàn xã chỉ còn 14%(theo chuẩn mới); hạ tầng cơ sở phát triển như đường giao thông liên thôn đang được nhựa hóa và bê tông hóa và cấp phối; hệ thống kênh mương phục vụ tưới tiêu đá được bê tông hóa; cơ sở vật chất trường học, trạm xá, có bưu điện văn hóa bảo đảm cho các hoạt động chuyên môn.
Ông Lê Công Thụ, Chủ tịch UBND xã Mai Hùng cho biết: Trên cơ sở địa hình và điều kiện thổ nhượng của xã , diện tích đất sản xuất nôg nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp để xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu công nghiệp Hoàng Mai nên xã đá nghiên cứu xây dựng cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phù hợp, đẩy mạnh thâm canh, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuất vào sản xuất…để nâng cao giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác. Trong đó chú trọng xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất rau màu sạch, chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, phục vụ nhu cầu đời sống cư dân trong vùng. Đồng thời xã sẽ du nhập thêm các nghề phụ mà xã có lợi thế về nguồn nguyên vật liệu và đầu ra ổn định cho sản phẩm để tạo thêm nhiều việc làm mới, tăng thu nhập cho nhân dân.
Đến nay xã Mai Hùng đã chuyển đổi được 60ha đất hoang hóa do nhiễm phèn và ngập mặn ở vùng Bến Trữa và Mĩ Xuyên sang nuôi tôm sú, trong đó 20ha nuôi công nghiệp. Ngoài việc đầu tư xây dựng mương, đường, cống…, xã còn làm việc với Chi nhánh Ngân hàng & PTNT Hoàng Mai cho các hộ nuôi tôm vay vốn không phải thế chấp. Cùng với việc hỗ trợ một phần tiền con giống vụ đầu, Sở Thủy sản còn về tập huấn kỹ thuật nuôi cho bà con nông dân. Nhờ đó tạo nên việc làm ổn định cho trên 100 hộ gia đình với tổng sản lượng năm 2005 trên 54 tấn tôm, doanh thu đạt trên 4,2 tỷ đồng. Sau khi trừ chi phí, bình quân mỗi hộ lãi 30 triệu đồng, cá biệt có hộ lãi trên 100 triệu đồng. Bên cạnh đó, xã còn tạo điều kiện cho nhân dân 2 xóm 10 và 11 vay vốn nuôi hàu trên bờ sông Hoàng Mai. Đến nay đã có hàng chục hộ nuôi cho thu nhập cao. Mỗi vụ, hộ nhiều đạt trên 40 triệu đồng, hộ ít cũng đạt 3-5 triệu đồng. Hiện nay Mai Hùng đang tiếp tục chuyển diện tích đất hoang hóa và đất có giá trị canh tác thấp sang nuôi trồng thủy sản.
Về công nghiệp-xây dựng và thương mại-dịch vụ đã phát triển khá sôi động, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng chung của xã. Trên địa bàn xã đã có nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh và chục hộ kinh doanh cá thể làm ăn hiệu quả như: Công ty TNHH Mạnh Xuân, Công ty TNHH Thư Lộc, Công ty TNHH Thái An Thành, DNTN Phú Tuấn và DNTN Tân Tài…Nhờ đó đã tạo việc làm cho hàng trăm lao động thường xuyên và thời vụ, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhân dân.
Cũng theo ông Thụ, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của xã sắp tới là: phát triển kinh tế với tôc độ cao, bền vững, bảo đảm môi trường, từng bước xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao…Xã sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất để thu hút các doanh nghiệp đến đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, nhằm nâng cao tỷ trọng công nghiệp, thương mại-dịch vụ của xã, góp phần xây dựng Mai Hùng trở thành xã giàu về kinh tế, ổn định chính trị, mạnh về an ninh quốc phòng, loại bỏ các tệ nạn xã hội ra khỏi đời sống cộng đồng dân cư./.

(Sưu tầm)

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương


Y!M: hoanganhvanpvn Skype:hoangducvan
Cell phone:0918048350
Coi thử O/Chú đang mô đang lượn lờ cùng mềnh trong thớt ni
Guest
3 Trang 123>
Di chuyển  
Bác không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bác không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
Bác không thể xóa bài của Bác trong diễn đàn này.
Bác không thể sửa bài của Bác trong diễn đàn này.
Bác không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
Bác không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.

@DatNghe Theme by HaDttT & (webdatnghe@yahoo.com)
Bản quyền bởi YAF 1.9.301 | YAF © 2003-2009, Yet Another Forum.NET
Thời gian xử lý trang này hết 2,482 giây.